Lá thư được giao cho Vĩnh An. Cậu vừa vặn phải thay Quân hầu phu nhân đi một chuyến tới Bắc cảnh để truyền tin cho Quân hầu.
Vĩnh An vốn đã muốn đi từ lâu, dù sao thì một trận chiến quy mô như vậy, mấy chục năm chưa chắc gặp được một lần. Đường xá tuy hơi xa, đi cũng mất ít nhất mười ngày nửa tháng, có lẽ khi cậu đến nơi thì bên kia đã kết thúc. Nhưng không sao, chỉ cần được nhìn một lần cảnh tượng “vạn kỵ cuốn cát khói lửa nát, ngàn giáo soi tuyết kiếm ngưng sông” là đã đáng giá rồi.
Sáng sớm hôm sau, cậu liền hỏa tốc lên đường.
Như một phần thưởng tuyệt vời nhất dành cho những người dũng cảm bảo vệ gia viên.
Trong khi họ chiến đấu kiên cường ở tuyến Nam vì Lộ Châu, thì ở tuyến Bắc, cuộc quyết chiến đồng thời diễn ra cũng đã giành thắng lợi cuối cùng.
Nửa tháng sau khi Vĩnh An xuất phát, tin thắng trận bay nhanh như gió về tới Thái Nguyên phủ.
Một trận chiến này, quân ta chém đầu ba vạn tên địch, kim quan và đại kỳ của thủ lĩnh Hồ tộc rơi vãi trong cát bụi, cờ đầu sói chất cao như núi; thu được bò, cừu, ngựa, lạc đà tính bằng con số hàng chục vạn. Các lều nỉ khung lư bị thiêu rụi liên miên suốt ba trăm dặm, cung đao giáp trượng chất đống như gò cao.
Đại quân thừa thắng tiến lên phía Bắc, mở rộng biên giới hơn bảy trăm dặm, dựng bia đá, hạ lệnh cho quân địch không được tự ý xuống phía Nam chăn ngựa. Từ Lỗ Vương trở xuống, ba mươi sáu vị quý tộc đều bị đeo gông giải về Thái Nguyên phủ, số còn lại được biên vào hộ khẩu để khai khẩn đồn điền, giáo hóa theo phong tục Hoa Hạ.
Mà trong trận chiến cuối cùng, người lập công đoạt cờ chém tướng chính là vị Nhị lang Bùi gia Bùi Thế Du với thân phận đặc biệt từng khiến dân chúng Hà Đông xôn xao đã biến mất nhiều năm.
Nghe nói trong trận quyết chiến trước núi Lang Sơn, thủ lĩnh bên địch là An Mộc Đại lấy thế đập nồi dìm thuyền, huy động hai mươi vạn thiết kỵ mở cuộc tấn công luân hồi điên cuồng vào quân Bùi gia. Gã đích thân tọa trấn trung quân cổ vũ sĩ khí, xác đồng bọn chết trận bị đắp thành từng lớp làm vật cản để chặn mũi nhọn, mang tư thế điên cuồng không chết không ngừng, đồng quy vu tận.
Giữa lúc thế trận lâm vào bế tắc, chính hắn một cung một thương một ngựa, dẫn đầu một đội quân cảm tử anh dũng đâm xuyên vào thiết trận Hồ kỵ. Áo máu thấm đẫm ba lớp giáp tê giác, đầu ngựa vương đầy máu đông thành vảy, hiên ngang xé toạc lỗ hổng dài ba trượng trong thế trận được mệnh danh là “vách sắt” của bộ tộc Lang Sơn. Ở khoảng cách trăm bước, hắn bắn đổ đại kỳ trên đầu An Mộc Đại. Khi cột cờ đổ ầm xuống, hắn thúc ngựa thần tuấn liên tiếp nhảy qua ba lớp vật cản, chém rơi đầu tên thủ lĩnh địch đang được bộ hạ vây quanh tháo chạy hoảng loạn.
Chiến công này xứng đáng được khắc ghi vào sử sách, là công đầu chém tướng đoạt cờ trong trận này.
Tin tức truyền đi, cả thành sôi sục. Dường như không còn ai nhớ đến những chuyện cũ của hắn nữa, từ đầu đường cuối ngõ, nơi nơi đều gật đầu khen ngợi, xuýt xoa kinh ngạc. Trẻ nhỏ trong ngõ còn tranh nhau hát bài: “Nhị lang Bùi gia phá núi Lang Sơn”.
Giữa lúc cả thành ăn mừng, mong ngóng ngày quân khải hoàn, đoàn người Lý Nghê Thường lại phải lên đường trở về.
Phần lớn quân đội nàng mang tới lúc đầu đã trở về trước.
Lúc này, không phải nàng không muốn ở lại Hà Đông để cùng cảm nhận vinh quang và niềm vui thắng trận, mà là nàng bắt buộc phải về.
Lý Trường Thọ gửi phi báo đến, vì Lý Lung và Đại Trưởng Công chúa quá lâu không lộ diện, mà Trưởng Công chúa vốn chủ trì đại cục cũng đã vắng mặt, tin tức vừa truyền ra ngoài đã gây ra đủ loại suy đoán, lòng dân rất hoang mang, các quan lại thăm dò lẫn nhau.
Không chỉ vậy, tin tức Thôi Trọng Yến bại trận tử vong cũng đang lan truyền nhanh chóng. Những thế lực trước đây từng bị hắn kìm chế, như Tiết độ sứ Thiên Hồng Ngô Chính Hoành và những kẻ khác gần đây lại bắt đầu có nhiều động thái. Một mình Lý Trường Thọ e rằng không thể kiểm soát được đại cục, mong nàng có thể sớm trở về.
Bạch Thư Quân tiễn nàng ra khỏi Thái Nguyên phủ, đi cùng còn có A Kiểu.
Lúc này người vui vẻ nhất chính là bé A Kiểu Bạch gia Hà Đông. Suốt dọc đường, cô bé không ngừng mơ mộng về niềm vui sắp được gặp thúc phụ, còn hát bài ca “Nhị lang Bùi gia phá núi Thương Sơn” học được cho Lý Nghê Thường nghe.
– Công chúa ơi, cha cháu viết thư nói họ sắp về rồi. Công chúa không thể đợi thêm chút nữa sao ạ? – A Kiểu nhìn nàng, ánh mắt đầy mong chờ.
– A Kiểu! – Bạch Thư Quân mỉm cười gọi con gái.
A Kiểu dẩu môi:
– Thôi được rồi! Con biết rồi! Con rất hiểu chuyện mà!
– Công chúa hãy bảo trọng, nếu có chuyện gì có thể gửi thư cho tỷ hoặc Quân hầu bất cứ lúc nào. Nếu rảnh, muội cũng nhớ ghé thăm bọn tỷ nhé!
Bạch Thư Quân mỉm cười từ biệt nàng.
Lý Nghê Thường bước lên xe ngựa. Đột nhiên thấy xe ngựa Bạch gia đã chuyển bánh lại dừng lại, cửa xe mở ra, A Kiểu nói thầm gì đó với mẫu thân mình, mẫu thân cô bé mỉm cười gật đầu, thế là cô bé chạy nhanh xuống xe, một mình đuổi theo.
Lý Nghê Thường vội vàng xuống xe đón lấy, thấy cô bé cúi đầu móc từ chiếc túi nhỏ đeo bên người ra một vật nhỏ, nâng niu đưa tới.
Hóa ra là một chiếc còi làm bằng ngọc. A Kiểu làm mẫu cho nàng, ngậm vào miệng, phồng má thổi “tu tu” mấy tiếng, sau đó dùng khăn tay nhỏ của mình lau sạch rồi đưa cho nàng. Cô bé nói muốn tặng nàng, để sau này khi rảnh rỗi nàng thổi còi, là sẽ nhớ đến mình.
Lý Nghê Thường hơi bất ngờ nhưng phần nhiều là vui mừng, nàng trịnh trọng nhận lấy nói:
– Ừ, cô cô nhất định sẽ giữ gìn cẩn thận!
– Cô cô phải nhớ thổi đấy nhé! – Cô bé nghiêm túc dặn dò.
Lý Nghê Thường không nhịn được cười, gật đầu hứa hẹn.
– Đúng rồi, cái này là quà thúc phụ tặng cháu đấy. Chính tay thúc ấy làm. Là thứ cháu thích nhất trong túi này á! – Cô bé vỗ vỗ chiếc túi nhỏ. – Cháu muốn tặng thứ mình thích nhất cho cô cô! Vừa nãy cháu đã hỏi mẫu thân rồi, mẫu thân nói được, thúc phụ sẽ không giận đâu!
Nói xong, cô bé mới lưu luyến lên xe ngựa đi xa.
Lý Nghê Thường dừng lại bên xe, cúi nhìn, ngón tay khẽ v**t v* chiếc còi ngọc. Khoảnh khắc xuất thần, chợt nàng nghe bên đường có tiếng gọi mình, nàng ngẩng lên, thấy Hàn Khô Tùng cưỡi ngựa chạy tới. Nàng cẩn thận cất chiếc còi đi.
Hàn Khô Tùng cũng đến tiễn đưa. Gã nói Tạ Ẩn Sơn sau khi trận chiến kết thúc đã vội vàng rời đi, gã còn chưa kịp nói câu nào với ông ta cả. Gã nhờ Lý Nghê Thường nếu sau này tiện thì thay mình gửi lời cảm ơn đến Tạ Ẩn Sơn.
– Cái lão tặc đó chết thật rồi à? – Nói xong, Hàn Khô Tùng cũng không đi ngay mà thở dài. – Trước đây ta nghe tin, còn tưởng là đồn thổi bậy bạ, nghĩ là lão tặc đó giả chết. Không ngờ lại là thật…
Gã khẽ lắc đầu, mặt lộ vẻ buồn bã, nhưng nhanh chóng nói:
– May mà Hổ Đồng không ưa lão, biết rồi chắc cũng sẽ không buồn đâu!
Gã như thở phào nhẹ nhõm, lại quay sang Lý Nghê Thường:
– Nghe nói Công chúa lúc đó cũng có mặt? Chuyện thế nào? Kể ta nghe chút đi!
Lý Nghê Thường kể lại đầu đuôi. Lần này, gã im lặng hồi lâu, đột nhiên giơ ngón tay cái lên:
– Thống khoái! Không còn gì để nói! Cái lão tặc này, từ trẻ ta đã nhìn không thuận mắt, đặt cái tên gì mà Vân Lang!
Gã lộ vẻ khinh thường.
– Ta đã mắng lão cả đời rồi, đừng nghĩ lão chết thật mà ta không mắng nữa! Nhưng mà, nói đi cũng phải nói lại, riêng chuyện này, ta rất bội phục lão!
Gã rút bình rượu treo trên lưng ngựa, cắn mở nắp, đi đến bên vệ đường hắt rượu xuống đất, nói với khoảng không:
– Lão tặc, cứ yên tâm mà đi đi! Gặp Tĩnh muội, ngươi nhớ nói với muội ấy một tiếng, Hổ Đồng đã có ta chăm sóc tốt, bảo muội ấy đừng lo lắng!
Vãi rượu xong, gã quay lại hành lễ với Lý Nghê Thường, rồi cưỡi ngựa đi mất.
Lý Nghê Thường nhìn bóng dáng đại hòa thượng biến mất, rồi quay đầu nhìn về một hướng gần đó.
– Công chúa, mình nên đi thôi! – Lý Trung Tiết khẽ nhắc nhở.
Lý Nghê Thường bảo cậu chuyển hướng tiếp tục lên đường, đến chiều tối thì tới vùng lân cận dinh thự cũ của Bùi gia. Nàng theo con đường cũ quen thuộc vào trang viên, dừng lại trước một cánh cửa.
Bùi Ngỗi đã rất già rồi, chân cẳng đi lại khó khăn. Hai năm nay ông vẫn luôn sống một mình trong ngôi nhà cũ để dưỡng bệnh và trông nom lăng mộ. Lý Nghê Thường gõ cửa, dâng quà cáp lên, cũng nói rõ ý định của mình. Lão nô bộc đi vào, một lát sau đi ra, dẫn nàng vào một gian nhà chính, khẽ nói:
– Lão gia chủ, Công chúa tới rồi ạ.
Trong gian nhà ánh sáng tối tăm, Bùi Ngỗi đặt quải trượng ngang gối, ngồi bên cửa sổ dưới ánh hoàng hôn, dùng giọng khàn đục hỏi nàng có chuyện gì.
Lý Nghê Thường hành lễ, trước tiên nói vài câu khách sáo, sau đó cân nhắc nói:
– Về Hồ Đức Vĩnh, không biết Bùi công có biết người này không ạ? Cách đây ít lâu, trước khi cáo lão về quê, ông ấy có nhắc với cháu rằng sau khi về muốn viết một cuốn hồi ký về những người cũ của tiền triều, cái tên cũng đã đặt rồi, là ‘Mạo Lão Nhàn Bút Ký’. Không phải để in ấn truyền bá, mà chỉ như nông phu ghi chép mùa màng, tự giữ làm kỷ niệm thôi. Ông ấy lại nói vì tuổi già nên nhiều chuyện xưa không nhớ rõ, sợ mình không biết mà bỏ sót, cảm khái đồng liêu cũ đã thưa thớt, người có thể giúp ông ấy lúc này e chỉ còn có Bùi công thôi. Tiếc là đường xá xa xôi, ông ấy đành thấy tiếc nuối. Ông ấy đã giúp cháu rất nhiều, cháu không biết lấy gì đền đáp nên luôn ghi nhớ trong lòng. Chuyến này vì chuyện thủ thành, vừa lúc tình cờ tới đây, cháu nghĩ đến Bùi công đang an dưỡng tuổi già ở đây nên đã mạo muội tới thăm, mong được Bùi công giải đáp giúp ạ. Sau khi về, cháu sẽ chuyển lời lại cho ông ấy. Như vậy cũng coi như cháu làm chút việc cho lão Tể tướng.
Bùi Ngỗi gật đầu, trên mặt dần hiện lên chút ý cười:
– Công chúa không cần e ngại. Chiến sự lại nổ ra, hai năm trước ta còn có thể góp chút sức, giờ thì thực sự phải nhận mình già thật rồi. Chuyện ngươi mượn binh lần này ta cũng nghe nói rồi. Ta thay mặt Bùi gia cảm ơn ngươi. Chỉ tiếc là lúc đó ta ở trong kinh không lâu, hiểu biết e là có hạn. Ông ta muốn hỏi gì, nếu ta biết nhất định sẽ nói hết.
Lý Nghê Thường vui mừng cảm ơn. Bùi Ngỗi bảo người chuẩn bị bút mực. Lý Nghê Thường ban đầu nói quanh co, hỏi về vài người khác mà nàng biết tên và ghi chép lại. Hỏi xong được vài người, nàng nói:
– Còn có một vị Vũ Văn Túng. Chính là vị Thiên Vương vừa mới qua đời cách đây không lâu…
Nàng nhận thấy vẻ mặt vốn hiền từ của Bùi Ngỗi hơi căng cứng lại, không nói gì. Nàng vội đặt bút xuống, tạ lỗi:
– Cháu biết không nên nhắc đến người này, nói tên ông ta ra e bôi nhọ quý phủ. Chỉ là cháu thấy Hồ Đức Vĩnh viết khá nhiều về người này. Ông ấy nói, ghi chép tiểu sử của mọi người thì dù trung hay nịnh, hiền hay ngu đều phải viết đúng sự thật, thiện ác đều có thể làm gương, nên cháu mới nhất thời có sơ sót. Nếu Bùi công không muốn nghe tên người này thì chúng ta bỏ qua ạ.
– Không sao. – Bùi Ngỗi im lặng một lát rồi nói: – Ông ta muốn hỏi gì, ngươi nói đi.
Lý Nghê Thường vội cảm ơn, ngồi xuống cầm bút, dùng giọng điệu tự nhiên nói:
– Ông ấy nói Vũ Văn Túng lúc trẻ khi ban đầu phản lại triều đình, vì Bùi đại tướng quân mang lòng thiện nên đã từng khuyên được ông ta quay đầu. Nhưng sau đó vì triều đình lật lọng, lừa giết cả nhà ông ta, nên mới cắt đứt con đường quay về của ông ta. Vì thời gian đã lâu, ông ấy tuổi cao nên không nhớ rõ rốt cuộc đó là năm Sùng Chính thứ mười sáu hay mười bảy? Hoặc những năm đó tương ứng với sự việc thế nào, ông ấy đều không nhớ rõ. Nên ông ấy rất phiền não ạ.
Nói xong, nàng thấy Bùi Ngỗi nhắm mắt như đang hồi tưởng. Một lát sau ông mở mắt, chậm rãi nói:
– Khởi phản lần đầu là tháng năm mùa hạ năm thứ mười sáu. Phản lại lần nữa là tháng hai năm sau.
Thì ra là thật! Chỉ là vẫn chưa biết thêm nhiều chi tiết. Lý Nghê Thường giả vờ ghi chép, định hỏi vòng vo thêm nhưng thấy ông ho vài tiếng, lộ rõ vẻ mệt mỏi.
Lão bộc bưng một bát thuốc bốc khói nghi ngút đi vào:
– Lão gia chủ, đến giờ uống thuốc rồi ạ.
Bùi Ngỗi nói:
– Dừng ở đây thôi. Thứ nhất là ta cũng già rồi, đầu óc lẩm cẩm chẳng minh mẫn hơn Hồ Đức Vĩnh bao nhiêu, dù có nhớ e cũng sẽ có sai sót. Thứ hai là năm đó ta chỉ là một võ tướng biên thùy nhỏ bé, dù có biết gì cũng chỉ là nhìn qua khe cửa, chẳng giúp ích gì cho việc viết sách của ông ấy đâu.
Đây là ông muốn tiễn khách, huống chi tuổi già sức yếu, Lý Nghê Thường không dám cưỡng cầu, vội cất bút đi rồi xin phép cáo từ.
Bùi Ngỗi giữ nàng lại dùng cơm, nghe nàng khéo léo từ chối vì phải vội lên đường thì cũng không ép, sai người tiễn khách.
Lý Nghê Thường thu dọn bút ký, cung kính bái tạ lần nữa rồi theo lão bộc đi ra ngoài.
– Từ đã! – Phía sau đột nhiên vang lên một tiếng gọi.
Lý Nghê Thường quay đầu, nhìn thấy Bùi Ngỗi đang chăm chú nhìn mình. Đợi một lát không thấy ông nói gì, nàng cảm thấy hơi kỳ lạ. Thêm một lát nữa, nàng định lên tiếng hỏi thì nghe ông chậm rãi nói:
– Công chúa đi đường cẩn thận.
Lý Nghê Thường cảm kích tạ ơn. Bùi Ngỗi không nói thêm gì nữa.
Nàng theo lão bộc ra khỏi phòng. Trước khi đi, nàng không kìm được quay đầu nhìn lại.
Ánh hoàng hôn trong phòng đã nhạt nhòa. Ông cụ vẫn ngồi ngay ngắn sau bàn như cũ, dõi mắt nhìn nàng. Đôi bàn tay gầy guộc của ông đặt trên gối, nhìn từ xa, bóng dáng dưới mái nhà cũ âm u tĩnh lặng như một chiếc bản lề gỉ sét. Ánh sáng mờ mịt từ cửa sổ phía Tây phác họa một nửa khuôn mặt ông, nửa còn lại chìm trong bóng tối.
Lý Nghê Thường biết không thể hỏi thêm được gì nữa từ chỗ vị thúc tổ Bùi gia sắp gần đất xa trời này nữa. Tuy nhiên, chuyến đi này không phải hoàn toàn không có thu hoạch. Xem ra lời Hồ Đức Vĩnh nói trước khi đi là thật.
Sau Tiết Hoa Triều năm thứ mười lăm, Bùi Uẩn Tĩnh từ biệt trở về nhà.
Tháng năm mùa hạ năm thứ mười sáu, Vũ Văn Túng phản loạn lần đầu. Khoảng cuối năm đó, ông đã đồng ý đầu hàng.
Tháng hai năm thứ mười bảy, chỉ vài tháng ngắn ngủi sau, ông lại phản một lần nữa, vì phụ hoàng của nàng đã lật lọng, g**t ch*t cả nhà ông.
Sau đó là cuộc giằng co kéo dài nhiều năm với triều đình, cuối cùng bại dưới tay đại tướng quân, trốn đi nơi xa.
Đó là khung thời gian đại khái mà Lý Nghê Thường đúc kết được.
Mặc dù phát hiện này giúp giải thích tại sao Thiên Vương lại giận lây sang Bùi gia, dẫu sao Bùi đại tướng quân từng có vai trò trung gian trong đó, nhưng vấn đề lại quay về điểm mấu chốt.
Thành thực mà nói, nếu vì lý do này mà sau này khi Bùi gia gặp nạn phải dời lên phía Bắc tới Tây Châu, ông ta lại gây khó dễ, thậm chí làm ra hành động ép buộc, trong mắt Lý Nghê Thường vẫn có chút khác thường.
Thiên Vương mà Lý Nghê Thường biết hiện nay tuy tính tình cực đoan, hành sự độc đoán, nhưng vẫn coi là có chừng mực.
Có lẽ thời trẻ, tính tình ông còn cực đoan hơn bây giờ.
Chuyện này đến đây là kết thúc, biết thêm chút uẩn khúc này cũng không thay đổi được gì.
Lý Nghê Thường không nghĩ nhiều nữa, gác chuyện lại, ra lệnh tiếp tục lên đường.