Cơn mưa xối xả như trút nước, Long Tử hí dài, chồm hai chân trước lên ngay trước cổng viện.
Bùi Thế Du lăn mình xuống ngựa, ủng giẫm lên mặt đất bắn tung tóe những vũng bùn nước. Hắn xô mạnh cánh cửa gỗ, sải bước lao vào trong viện rồi đẩy cửa phòng bước vào.
Bên trong, ánh nến được thắp lên để trợ sáng. Trên giường là Lý Nghê Thường đã hôn mê nhiều ngày, trước mặt nàng là một lão giả gầy gò đang bắt mạch. Lão mặc áo vải thô, chòm râu bạc rủ xuống trước ngực, ba ngón tay đang đặt lên cổ tay nàng, nhắm mắt bắt mạch đầy vẻ tập trung cao độ.
Hắn đứng sững lại sau cánh cửa, vạt áo ướt đẫm ch** n**c xuống sàn thành những vệt loang lổ. Đôi vai căng cứng bấy lâu cuối cùng cũng buông lỏng, đột nhiên, mắt hắn tối sầm lại, cả người đổ sập về phía trước, ngã mạnh xuống đất.
Khi Bùi Thế Du mở mắt ra lần nữa, ánh hoàng hôn đã nhuộm đỏ giấy dán cửa sổ.
Hắn nghiêng đầu, phát hiện mình đang nằm trên giường, bên cạnh chính là dung nhan đang ngủ của nàng. Đôi mắt nàng khép chặt, lồng ngực khẽ phập phồng, đôi gò má dường như không còn vẻ trắng bệch tuyệt vọng như trước đó nữa.
Nàng hẳn là đang ngủ, chứ không phải hôn mê.
Như sợ làm tan vỡ một giấc mộng dễ tỉnh, Bùi Thế Du nín thở, cẩn thận xuống giường rồi bước ra ngoài.
Tạ Ẩn Sơn đang ngồi đối diện với vị Thiên sư ở gian phòng bên cạnh. Vẻ mặt Tạ Ẩn Sơn vô cùng cung kính, đang đích thân rót trà cho lão giả. Thấy hắn bước vào, cả hai đều ngẩng đầu. Tạ Ẩn Sơn đứng dậy đón, khẽ hỏi thăm sức khỏe của hắn.
– Ta không sao!
Bùi Thế Du đi tới trước mặt lão giả, nén cơn đau ở đầu gối, quỳ sụp xuống dập đầu thật mạnh:
– Cầu xin Thiên sư cứu lấy thê tử của cháu ạ!
Giọng hắn khản đặc nghẹn ngào, trán chạm sát mặt đất. Lão giả ra hiệu bảo hắn đứng lên, thấy hắn không nhúc nhích thì cũng thôi, đặt chén trà xuống rồi nói:
– Con súc vật nhỏ gây họa kia, chủ nhân ban đầu của nó vốn là Hồ Kinh sư đệ của ta.
Lão khẽ thở dài một tiếng.
– Thời trẻ, ta và hắn cùng đi cầu học, lập chí giúp đời.
Ánh chiều tà bên ngoài cửa sổ càng đậm hơn, Tín Vương lẳng lặng đốt đèn lên.
Thiên sư nói tiếp:
– Nào ngờ sau khi dấn thân vào đời mới biết tất cả chỉ là khí phách của đám thư sinh mà thôi. Triều đình tranh đấu, hoài bão hóa thành hư không. Ta tâm phàm chưa dứt, bèn chuyên tâm vào bách gia thuật, vẫn hão huyền muốn dùng nó để thi triển hoài bão một lần nữa. Còn sư đệ ta thì…
Lão lắc đầu.
– Hắn có thiên tư cực cao, nhưng lại chuyên nghiên cứu độc vật, muốn dùng nó để khống chế lòng người. Hắn dẫn giống rắn lạ từ Tây Vực về nuôi độc, cần dùng hoa Mỹ Nhân Lan làm dẫn dụ. Loại hoa này cùng nguồn gốc với loài độc trùng kia, cũng đến từ Tây Vực, vốn là cống phẩm từ thời tiền triều Thế Tông, dân gian hiếm thấy, chỉ được trồng trong cung. Hồ Kinh vì muốn vào cung đã tìm đến ta. Đó là lần gặp lại sau nhiều năm xa cách. Nhưng khi ấy ta đã hoàn toàn nản lòng, biết mình cũng chỉ là kẻ phàm phu vô dụng, nảy ý định rời đi nên đã khuyên ngăn hắn. Nào ngờ sau khi ta đi, hắn đã nhập ma, cam tâm lấy thân nô bộc để tìm cơ hội vào cung, từ đó kết giao quyền quý…
Nói đến đây, Thiên sư lặng đi. Ánh nến cháy lách tách, soi rõ những nếp nhăn sâu hoắm trên mặt lão.
– Sau khi tiền triều sụp đổ, người cũ tan tác, cố đô xưa hóa thành thành quách hoang tàn, giấc mộng của Hồ Kinh cũng tan thành mây khói. Thân phận của tôn phu nhân, ta cũng nghe Tín Vương nói qua đôi phần. Từ khoảnh khắc con bé nhận lấy con súc vật nhỏ từ tay Hồ Kinh, hẳn nó đã biết sẽ có ngày bị độc phản phệ.
Thiên sư liếc nhìn về phía buồng trong, rồi dừng lại.
– Muội ấy… còn cứu được không ạ? – Bùi Thế Du run rẩy hỏi.
– Hôm qua ta đã cho nó dùng thuốc bảo vệ tâm mạch, nhưng cũng chỉ tạm thời ngăn chặn mà thôi. Muốn triệt để khử độc, vẫn phải dùng hoa Mỹ Nhân Lan làm dẫn dụ.
– Muội ấy có trồng loại hoa này! Cháu sẽ phái người đi lấy ngay! – Bùi Thế Du lập tức bật dậy định lao ra ngoài.
– Này nhóc con! – Thiên sư gọi giật hắn lại – Đó chỉ là những cây thuốc thông thường, có mang về bao nhiêu cũng vô dụng thôu.
Bùi Thế Du đứng sững lại.
– Khi Hồ Kinh còn sống, dù dốc hết tâm huyết cũng không tìm ra cách khử độc hoàn toàn. Việc nghiên cứu độc vật của ta vốn không bằng hắn, cũng chỉ có thể dựa theo suy đoán của bản thân mà thôi. Độc vật trong thiên hạ thường sinh ra cùng vật khắc chế. Như cạnh cây lá ngón thường có cỏ đoạn trường; nơi rắn rết hoành hành thường sinh linh chi chu sa. Đó là huyền cơ của tạo hóa, âm dương tương hỗ, cũng không có độc dược nào là không có thuốc giải.
Bùi Thế Du chăm chú lắng nghe, không dám bỏ lỡ một chữ.
Thiên sư tiếp tục:
– Con súc vật nhỏ kia và hoa Mỹ Nhân Lan vốn tương sinh tương khắc. Hồ Kinh thông thạo việc này, đương nhiên hiểu rõ đạo lý đó. Hắn tận tâm nuôi trồng Mỹ Nhân Lan, tất nhiên cũng là muốn tìm ra vật khử độc hoàn toàn. Sở dĩ không thành công, theo ta phán đoán, là vì hắn không có Cây Mẹ.
– Cây Mẹ? – Tạ Ẩn Sơn nãy giờ im lặng nghe cũng không nhịn được mà chen ngang.
Thiên sư khẽ gật đầu:
– Phải. Phàm cây mẹ, hấp thụ tinh khí của địa mạch, thuận theo vận hành của bốn mùa.
Hái vào mùa xuân thì hàm chứa khí Thiếu Dương, thu vào mùa thu thì tụ đủ hoa tinh của Thiếu Âm.
Đến khi sinh ra mầm nhánh, cũng như lửa truyền sang củi, ánh sáng và nhiệt lực dần suy giảm; tựa nước phân thành dòng, thế lực ắt ngày càng yếu đi.
Bùi Thế Du vốn thông minh tuyệt đỉnh, lập tức lĩnh hội được ngay, hắn lao đến sát bên Thiên sư:
– Cháu hiểu rồi! Vậy ở đâu mới tìm được cây mẹ của Mỹ Nhân Lan ạ?
Thiên sư suy nghĩ một lát rồi nói:
– Ta vốn ham đọc sách, năm xưa ở trong cung nhờ tiện lợi đã đọc rộng khắp các thư tịch, đặc biệt là các ghi chép về lăng tẩm các triều đại, gần như không bỏ sót gì. Nếu ta nhớ không lầm, nơi duy nhất ở Trung Nguyên hiện nay còn tìm được cây mẹ Mỹ Nhân Lan, chính là Lăng của Chiêu Đức Hoàng hậu thời Thế Tông.
– Lăng của Chiêu Đức Hoàng hậu?
Thiên sư gật đầu, bắt đầu kể rõ ngọn ngành.
– Thời Thế Tông quốc lực hưng thịnh, Mỹ Nhân Lan ban đầu là cống phẩm từ một nước nhỏ Tây Vực, được coi là tiên thảo, có thể dẫn lối linh hồn về cõi cực lạc. Nghe nói Thế Tông hoàng đế dành rất nhiều tình cảm cho người vợ quá cố, không những chọn bảo địa để xây riêng lăng tẩm, mà còn đem cây tiên thảo duy nhất từ Tây Vực về bồi táng trên vị trí phong thủy của lăng, hy vọng tiên thảo có thể dẫn dắt linh hồn người vợ đi tìm sự trường sinh ở thế giới khác.
– Cây mẹ duy nhất trong cung đã bị đem đi bồi táng, những cây còn lại chỉ là cây con mà thôi. Đến thời sư đệ ta thì đã hơn trăm năm, dược tính ngày càng yếu, hắn dù có là thiên tài đến đâu cũng khó lòng tìm được dược tính mạnh mẽ như cây mẹ.
– Thiên tư của hắn hơn hẳn ta, nhưng vì mê muội bản tâm nên mới lầm đường lạc lối, Thái Sơn ở ngay trước mắt mà không thấy, thật đáng tiếc thay!
Tiếng kể của Thiên sư dứt hẳn, căn phòng chìm vào tĩnh lặng một hồi lâu. Bùi Thế Du quay sang nhìn Tạ Ẩn Sơn.
Không đợi hắn mở lời, Tạ Ẩn Sơn lập tức nói:
– Chiêu Đức Hoàng hậu là tổ mẫu của lang quân và Công chúa, huyết mạch tương thông. Nay vì cứu Công chúa, bất đắc dĩ phải kinh động đến bà ấy, bà ấy sẽ không quở trách gì đâu. Ta sẽ đi tìm người dẫn đường và chuẩn bị hành trang ngay, lang quân cứ việc nghỉ ngơi hồi phục sức khỏe, đợi ta quay về là được!
– Tôi không sao, tôi sẽ đích thân đi! Làm phiền Thiên sư ở lại đây trông nom thê tử của cháu thêm chút nữa.
Bùi Thế Du lại quỳ xuống trước mặt Thiên sư, trịnh trọng dập đầu bái tạ.
Thiên sư nhìn hắn, khẽ lắc đầu, vuốt râu trầm ngâm một lát rồi bảo:
– Thôi được rồi, mang theo nhóc con kia nữa, ta sẽ đi cùng. Nếu Mỹ Nhân Lan thực sự còn sống ở đó, trải qua hơn trăm năm chắc đã sinh sôi nảy nở thành một vùng lớn. Các ngươi không tìm được cây mẹ, sợ sẽ hỏng việc. Con bé không đợi được lâu nữa đâu.
Ngày hôm sau, Tạ Ẩn Sơn dẫn theo nhân mã tới.
Lý Nghê Thường nằm trong một chiếc xe ngựa lót đệm mềm rất dày, đoàn người phi nước đại trên quan đạo hướng về phía Tây, móng ngựa tung bụi mù mịt.
Mấy ngày sau, họ tiến vào địa phận Trường An.
Vì Thiên Vương những năm gần đây đã di dân trở về, dọc đường thỉnh thoảng thấy vài căn nhà tranh mới dựng, nhưng khói bếp vẫn thưa thớt. Cố đô xưa giờ chỉ là những bức tường đổ nát, cỏ dại ngập lối, ánh hoàng hôn đỏ như máu phủ lên những con phố tàn tạ, tiếng vó ngựa giẫm lên sỏi đá làm giật mình từng đàn quạ đen.
Người dẫn đường đưa họ qua Trường An, tiếp tục đi về phía Tây thêm vài trăm dặm, cuối cùng tiến vào vùng núi rừng nơi đặt lăng tẩm.
Nơi đây lại là một cảnh tượng khác hẳn.
Những cây cổ thụ cao vút phải vài người ôm, dây leo to như cánh tay người đan xen như mạng lưới, gần như không có chỗ đặt chân.
Xe ngựa không thể đi tiếp, Lý Nghê Thường ban đầu được chuyển sang kiệu tay, nhưng khi vào sâu hơn, kiệu cũng bị cản trở. Bùi Thế Du lo sợ nàng sẽ gặp chuyện lúc Thiên sư không ở cạnh, không muốn để nàng lại bên ngoài, bèn kiên quyết tự mình cõng nàng trên lưng để cùng đi.
Các quân sĩ phía trước luân phiên vung đao mở đường, tiếng đao chém vào dây leo vang lên trầm đục.
Cuối cùng, đoàn người cũng đến được gần một cửa thung lũng theo lời người dẫn đường.
Đó vốn là lối vào chính của lăng tẩm, nào ngờ, người dẫn đầu tìm kiếm hồi lâu vẫn không có kết quả, cuối cùng đành bất lực dừng lại.
– Không đúng, – Hắn quệt mồ hôi, – Theo lý mà nói, đây phải là cửa thung lũng mới phải!
Mọi người nhìn theo hướng tay hắn chỉ, chỉ thấy địa thế núi non hiểm trở, dưới lớp cây cối rậm rạp vẫn có thể thấy rõ trên vách đá có những vết nứt như bị đao chém.
Thiên sư dù tuổi cao nhưng sức còn dẻo dai, nhưng dẫu sao cũng đã có tuổi, được nâng đến tận đây, sau khi nghỉ ngơi liền quan sát xung quanh, lại lấy la bàn ra kiểm tra một lượt, nói địa mạch đã dịch chuyển. Hẳn là nhiều năm trước vùng này đã xảy ra một trận động đất dữ dội, cửa thung lũng cũ đã bị đất đá sụp xuống vùi lấp hoàn toàn.
Tạ Ẩn Sơn lúc này cũng nhớ ra, liền nói:
– Ta nhớ ra rồi. Sau khi tiền triều sụp đổ, rất nhiều lăng mộ hoàng gia bị đào trộm, duy chỉ có lăng Thế Tông và Chiêu Đức Hoàng hậu thoát nạn. Giờ xem ra, ngoài việc lăng được xây riêng biệt thì trận động đất đã làm thay đổi sông núi, phong tỏa lối vào núi rồi!
Bùi Thế Du đứng lặng giữa rừng hoang, nắm đấm siết chặt, các khớp ngón tay trắng bệch.
Thiên sư trầm ngâm:
– Không còn cách nào khác. Nếu có bản đồ phác thảo phương vị của ngọn núi này, ta có thể dựa theo phong thủy để xác định vị trí lăng, từ đó mở đường đi tới, tiết kiệm thời gian và sức lực. Giờ không chắc chắn được, chỉ có thể thử đường, xem vận may thế nào thôi.
Màn đêm buông xuống, đoàn người dựng trại nghỉ lại.
Gió núi rít qua rừng rậm và khe đá suốt đêm. Ngày hôm sau, Tạ Ẩn Sơn và Bùi Thế Du dẫn người đi tìm đường, nhưng đến tận sẩm tối cũng đều không có kết quả. Ngày thứ ba vẫn như vậy.
Tình trạng của Lý Nghê Thường đột ngột chuyển biến xấu.
Bùi Thế Du càng lúc càng yên lặng, mỗi ngày không phải tự mình mở đường thì là thức suốt đêm không rời nàng nửa bước, dường như không biết mệt mỏi. Không khí ngày một nặng nề, vẻ mặt Thiên sư cũng ngày càng nghiêm trọng.
Đến ngày thứ tư, mưa rừng ập đến, mùi lá mục hòa cùng sương núi lạnh lẽo khiến hơi thở trở nên khó khăn. Sắc mặt Lý Nghê Thường càng thêm xanh xao so với mấy ngày trước.
Trăng khuyết như móc câu, đống lửa sắp tàn thỉnh thoảng bắn lên vài tia lửa nhỏ.
Tạ Ẩn Sơn nằm nguyên y phục, bên tay đặt thanh bội đao đã tuốt khỏi vỏ, lưỡi đao phản chiếu ánh lửa yếu ớt.
Nghĩ đến việc vào núi bị cản trở, tính mạng Công chúa ngày một nguy kịch, gã tâm sự nặng nề, mãi không ngủ được. Khi khẽ quay mặt đi, ánh mắt gã dừng lại một chút.
Vị lang quân trẻ tuổi đang ôm chặt vị Công chúa hôn mê trong lòng. Qua ánh lửa bập bùng, gã mờ ảo thấy Bùi Thế Du cúi đầu, ghé sát môi vào tai nàng như đang thì thầm tâm tình.
Nhớ lại đêm qua, hắn cũng đã ôm nàng như thế suốt đêm, không hề buông tay.
“Hận của hắn như sương giáng gió Tây, tiêu điều làm héo úa bách thảo. Yêu của hắn tựa sấm xuân Kinh Trập, oanh liệt có thể đánh thức vạn vật.”
Trong đầu Tạ Ẩn Sơn chợt hiện lên câu nói đó.
Đây có lẽ chính là tình nồng của đôi lứa trẻ, như thanh kiếm mới chưa tôi luyện, sắc bén dễ gãy, làm tổn thương người, cũng làm tổn thương chính mình.