Lăng Liệp dừng bước, “‘Phù Quang’…”
Quý Trầm Giao nói: “Không chỉ điện thoại, hộp TV nhà ông ấy cũng bị xâm nhập rồi. Hacker có thể dựa vào thời gian ông ấy mở hộp TV để suy đoán thói quen sinh hoạt, thời gian làm việc và nghỉ ngơi của ông ấy.”
Lăng Liệp nói: “Ông ấy nhận ra mình bị theo dõi, bị quan sát nên mới bỏ trốn? Ông ấy biết điện thoại có thể bị theo dõi nên không mang theo cả điện thoại?”
Quý Trầm Giao nói: “Có khả năng đó. Nhưng làm sao ông ấy đột nhiên phát hiện ra? Thẩm Tê nói, hộp TV đã bị xâm nhập từ cuối năm ngoái. Trong một năm đó, là do đối phương chỉ quan sát, không có hành động thực tế nào, hay là ông ấy không để ý? Tại sao bây giờ ông ấy mới để ý? Hung thủ hành động, ông ấy bỏ trốn, nhưng cuối cùng vẫn không thoát được.”
Lăng Liệp đấm vào lòng bàn tay, “‘Phù Quang’ muốn giết ông ấy… Vụ án lần trước, ông ấy đúng là đã giúp chúng ta rất nhiều.”
Quý Trầm Giao lắc đầu, “Em thấy logic này không đúng.”
“Hửm?”
Quý Trầm Giao bắt đầu vẽ sơ đồ tư duy, “Lúc mới biết Lão Đán mất tích, không phải chúng ta đã nói ông ấy nhúng tay vào vụ án ‘Phù Quang’, có thể đã bị lộ? Nên mới bỏ trốn? Nhưng chẳng phải ‘Phù Quang’ đã bắt đầu quan sát ông ấy từ một năm trước sao?”
Lăng Liệp im lặng, gật đầu.
“Có lẽ ‘Phù Quang’ vẫn giống như trong vụ ‘Mặt Nạ Phấn’, đóng vai trò công cụ,” Quý Trầm Giao nói: “Kẻ thực sự muốn mạng ông ấy là người khác.”
Lăng Liệp kéo ghế ngồi xuống, “Có người đăng treo thưởng trên ‘Phù Quang’, nhờ người tìm giúp Lão Đán? Nhưng đã tìm thấy Lão Đán một năm rồi, tại sao bây giờ mới hành động?”
Quý Trầm Giao: “Thứ nhất, người nhận nhiệm vụ giấu giếm để đòi thù lao cao hơn. Thứ hai, trả thù không dễ dàng. Kết hợp với manh mối về nước L, nhập cảnh bất tiện? Chưa chuẩn bị xong?”
Lăng Liệp: “Đã có thể đăng treo thưởng trên ‘Phù Quang’, tại sao không thuê sát thủ? Thuê sát thủ chẳng phải đơn giản hơn tự mình giết người sao?”
Quý Trầm Giao: “Vậy còn niềm vui khi tự mình ra tay thì sao?”
Lăng Liệp há miệng, chống tay lên trán, “Đúng, còn có loại cảm giác này. Hung thủ có lý do phải tự mình ra tay, vượt qua mọi khó khăn, không tiếc thời gian cũng phải đích thân đến.”
Tên hung thủ đến từ phương xa đến này, hình như hiểu rất rõ về thành phố Hạ Dung. Lão Đán mất tích chưa bao lâu, ngay cả cảnh sát cũng không biết ông ấy ở đường Quế Thủy, vậy mà hung thủ đã biết? Nhưng cũng có thể là vì Lão Đán đã bị hắn ta phát hiện từ lâu, cuộc đối đầu trên sân thượng không phải là lần gặp mặt gần đây nhất của bọn họ?
Lăng Liệp kể lại từng manh mối mà hôm nay mình tìm được cho Quý Trầm Giao nghe, hắn còn nhấn mạnh đến chiếc túi gấm của Lão Đán, và việc Lão Đán dường như đã kiếm đủ tiền về nước nhưng lại không chịu “áo gấm về làng”.
Ngay lúc hai người đang phân tích các khả năng, thì bên phân cục có tin báo tới, đã tìm thấy vỏ đạn, là súng của nước L, rất phổ biến trên thị trường chợ đen quốc tế.
Đội trọng án và phân cục Đông Thành hợp tác, trích xuất tất cả camera giám sát có thể lấy được quanh đường Quế Thủy, ống kính đã ghi lại được hình ảnh Lão Đán, nhưng tạm thời chưa tìm thấy người nào đáng nghi khác.
“Anh phải đến thôn Kim Hướng một chuyến,” Lăng Liệp nói: “Lão Đán không dám về quê, chắc chắn là có lý do gì đó không dám về.”
Quê của Lão Đán là thôn Kim Hướng, nằm sâu trong vùng núi phía Nam, nay đã sáp nhập với các thôn khác thành thị trấn Kiển Lĩnh, chủ yếu làm nghề chế biến hoa quả. Trong trấn nhà nào cũng xây nhà lầu kiểu Tây, không khí thoang thoảng mùi thơm ngọt của trái cây.
Lăng Liệp dò hỏi thì được biết, tuy thôn đã sáp nhập, nhưng người dân vẫn quen sống theo khu vực cũ, như dân thôn Kim Hướng thì phần lớn sống ở phía Nam thị trấn, gắn bó với núi sông ở nơi đây.
Trong thị trấn ít có người lạ đến, thương lái thu mua hoa quả, lãnh đạo huyện, mọi người đều quen mặt cả. Lăng Liệp đi dạo trong thị trấn nửa ngày, thu hút không ít ánh mắt tò mò.
Có một chị gái không nhịn được tiến lên hỏi: “Này cậu trai, cậu tìm ai thế?”
Lăng Liệp nhìn sân nhà chị ấy, đoán chị là người thôn Kim Hướng, cười nói: “Chị ơi, thôn Kim Hướng nhà mình chuyển đến đây rồi ạ?”
Người miệng ngọt hay cười lại đẹp trai thì ở đâu cũng được quý mến. Chị gái vội nói: “Đúng đúng, chuyển đến lâu rồi. Cậu là…”
“Hồi nhỏ em cũng từng ở thôn Kim Hướng, bao nhiêu năm không về rồi, hiện tại đến gần đây công tác nên tiện đường ghé qua xem sao.”
“Ối! Sao chị chưa gặp cậu bao giờ nhỉ?”
“Em không phải người thôn mình mà, theo người lớn trong nhà đến thăm họ hàng thôi ạ.”
Ở nông thôn chuyện thế này nhiều lắm, dăm bữa nửa tháng lại có người đi thăm họ hàng, cửa nhà nào cũng mở, họ hàng lại sang nhà hàng xóm chơi, lâu dần cũng chẳng biết ai là họ hàng của ai nữa.
“Bây giờ khác xưa nhiều quá,” Lăng Liệp nói: “Hồi em đến còn ở trong cái nhà đất tường đá ấy.”
“Đương nhiên rồi! Bây giờ có tiền rồi mà!”
Chị gái nói chuyện với Lăng Liệp một lúc, hắn khéo léo lái câu chuyện sang gia đình họ Hình, nói rằng nhà họ Hình hồi đó có vay tiền người lớn nhà mình, nhưng rồi cả nhà bỏ đi biệt tăm.
Chị gái nghĩ một lúc, “Chỗ chúng tôi làm gì có ai họ Hình đâu nhỉ?”
Lăng Liệp nói: “Có lẽ là em nhớ nhầm.”
Chị gái lại nhiệt tình hẳn lên, “Đi, chị dẫn cậu đi gặp lão trưởng thôn. Dân thôn Kim Hướng chúng tôi chất phác lắm, nếu bọn họ thật sự nợ tiền nhà cậu, chúng tôi nhất định sẽ tìm cách giải quyết cho cậu!”
Lão trưởng thôn đã nghỉ hưu từ lâu, lúc này đang làm đồ hộp trong xưởng. Nhưng chị gái nói, ở thôn Kim Hướng có chuyện gì, cứ tìm lão trưởng thôn giúp là không sai đâu.
“Nhà họ Hình?” Lão trưởng thôn nói: “Cái nhà họ Hình chết sạch rồi ấy hả?”
Chị gái kinh ngạc, “Chết hết rồi là sao?”
“Cô đừng có chen ngang.” Dường như Lão trưởng thôn nhớ ra điều gì đó, “Năm đó đúng là có mấy nhóm người đến tìm, nói Hình Vĩnh Cường nợ tiền không trả. Nhà cậu cũng đến vào lúc đó à?”
Lăng Liệp nói theo: “Bọn cháu cũng không phải chuyên đến đòi tiền, ông ấy vay cũng không nhiều, người lớn nhà cháu chủ yếu đến thăm họ hàng, tiện thể hỏi chuyện tiền nong thôi.”
Lão trưởng thôn gật đầu, “Đúng là có chuyện đó, đúng là có chuyện đó thật.”
Lăng Liệp hỏi: “Thế nào ạ, nhà họ Hình chỉ có một mình Hình Vĩnh Cường thôi sao?”
“Haizz, làm gì có nhà họ Hình nào, nó chỉ là kẻ ăn nhờ ở đậu nhà ông Đoạn thôi.”
“Ông Đoạn?”
Chị gái nói: “Người ngoài đến, chắc cậu chưa nghe nói về ông Đoạn đâu nhỉ? Đó là nhà giàu có tiếng ở chỗ này đấy! Địa chủ, giàu lắm!”
Lão trưởng thôn vội quát: “Nhà giàu địa chủ cái gì chứ, học tập cải tạo bao nhiêu năm rồi, sao cô vẫn còn tư tưởng phong kiến thế hả?”
Chị gái bị mắng đến mức phải nhún vai, cười cười với Lăng Liệp.
Lăng Liệp nhân tiện hỏi luôn về nhà họ Đoạn, thấy trong sân có nhiều hoa quả đang chờ phơi khô, liền cởi áo khoác ra, xắn tay vào giúp việc.
Xưởng kiểu này không giống nhà máy dây chuyền trên thành phố, mọi người đều vừa làm vừa nói chuyện, chứ im lặng thì chắc chắn không làm nổi.
Có người giúp việc, lại có thể nói chuyện phiếm, lão trưởng thôn rất vui vẻ kể cho Lăng Liệp nghe về lịch sử thôn Kim Hướng.
Đoạn đầu khá dài, lại không liên quan đến Lão Đán và nhà họ Đoạn, nhưng Lăng Liệp không thúc giục, chờ lão trưởng thôn kể sâu hơn.
Hơn một trăm năm trước đã có thôn Kim Hướng rồi, lúc đó đại đa số dân làng đều là nô lệ, bị hai nhà họ Dương, họ Tào nô dịch, sống rất khổ cực. Sau đó nhà họ Đoạn dẫn một nhóm nhỏ dân làng phản kháng thành công, người nhà họ Dương, họ Tào kẻ thì bỏ trốn, người thì chết. Từ đó về sau, trong thôn không còn nô lệ, nhà họ Đoạn ra ngoài học hỏi, kêu gọi mọi người trồng hoa quả, tình hình thôn Kim Hướng ngày một tốt lên.
Nhưng nhà họ Đoạn cũng giết không ít người. Khi pháp luật được thiết lập ở thôn Kim Hướng, người đứng đầu nhà họ Đoạn bị bắt, sau khi hòa giải, một số người được thả ra. Nhà họ Đoạn lúc đó đã là nhà giàu nhất thôn Kim Hướng, giúp đỡ rất nhiều bà con nghèo khó.
Hình Vĩnh Cường là một trong số đó. Cha chú cậu ấy không ra gì, lúc mọi người đều trồng hoa quả thì bọn họ lại cờ bạc chơi bời, nhanh chóng tiêu sạch hết tiền tiết kiệm trong nhà, vợ cũng bị tức chết. Dăm bữa nửa tháng lại có người ngoài xông vào thôn tìm nhà họ Hình đòi nợ, đám vô dụng nhà họ Hình vì trốn nợ nên đã chạy hết, chỉ còn lại Hình Vĩnh Cường mới mấy tuổi.
Đứa bé còn nhỏ, rất đáng thương, nhà họ Đoạn cho nó bát cơm ăn, sau này nó dứt khoát ở lại nhà họ Đoạn, làm việc cho bọn họ. Vì tuổi tác xấp xỉ nên quan hệ với “thiếu gia” nhà họ Đoạn rất tốt.
Bây giờ thì làm gì còn “thiếu gia” nữa, nhưng lão trưởng thôn vẫn quen gọi như vậy.
Lăng Liệp nghe ra ý tiếc nuối trong lời nói của ông, dường như nhà họ Đoạn này không còn nữa, bèn hỏi: “Nhà họ Đoạn bây giờ thế nào rồi ạ?”
Lão trưởng thôn lắc đầu, “Không còn nữa.”
“Sao lại không còn ạ?”
Lão trưởng thôn im lặng hồi lâu, thở dài, “Suy cho cùng thì bọn họ cũng phạm pháp mà. Hai nhà Tào, Dương cứ nhắm vào bọn họ mà tố cáo, tố giác, mấy năm đó không ít người phải vào tù. Mấy đứa trẻ tuổi nếu không chạy thì chắc chắn cũng bị bắt.”
Lăng Liệp hỏi: “Chạy? Chạy đi đâu ạ?”
“Chạy ra nước ngoài rồi, không bao giờ quay lại nữa. ‘Thiếu gia’, mấy người anh, chú của cậu ấy, họ còn mang cả Hình Vĩnh Cường theo.” Lão trưởng thôn cười cười, “Thực ra tôi ủng hộ việc bọn họ chạy trốn. Trước kia tôi cũng là nô lệ của nhà họ Tào, chính ‘lão gia’ nhà họ Đoạn đã cho tôi một con đường sống.”
Lăng Liệp nói: “Nước ngoài rộng lớn như vậy, ông có biết bọn họ đi đến nước nào không?”
Lão trưởng thôn nói: “Này cậu nhóc, biết rồi chẳng lẽ cậu còn đuổi theo được à? Nói cho cậu biết, đó không phải là một quốc gia an toàn đâu.”
Lăng Liệp cười nói: “Chẳng phải chúng ta đang nói chuyện phiếm thôi sao? Nước nào mà không an toàn chứ? Nước L ạ?”
“Ối!” Lão trưởng thôn kinh ngạc, “Vậy mà lại bị cậu đoán trúng thật!”
Lăng Liệp giả vờ ngạc nhiên, “Thật ạ?”
Lão trưởng thôn gật đầu, rồi lại thở dài, “Cho dù cậu dám đi thì cũng không tìm được họ đâu.”
“Tại sao ạ?”
“Có lẽ đã mất tăm mất tích từ lâu rồi, mất liên lạc bao nhiêu năm rồi còn gì.”
Lăng Liệp hỏi: “Mất liên lạc? Lúc bọn họ mới sang, vẫn còn liên lạc với ông à?”
“Có chứ, mấy năm đầu thỉnh thoảng có thư gửi về, đi đường mất mấy tháng, nhưng dù sao cũng có tin tức.” Lão trưởng thôn bẻ ngón tay, nhưng lại tính không xuể, “Ít nhất cũng phải mười lăm năm rồi không có chút tin tức nào. Trên TV chẳng phải hay đưa tin nước L đánh nhau suốt đấy sao, mấy năm gần đây mới yên ổn hơn một chút. Bọn họ lại sang đó đi đánh trận cho người ta, có lẽ đã… Haizz!”
Lăng Liệp nói: “Bọn họ sang đó đi đánh trận cho người ta?”
“Tôi cũng không rõ lắm, đại khái là đánh trận thì kiếm được tiền. ‘Thiếu gia’ không muốn đi, nhưng thằng nhóc nhà họ Hình kia vừa nghe nói đánh trận có tiền là nhảy cẫng lên, nhất quyết đòi đi. Lúc đó cũng hết cách, nhà họ Đoạn bắt buộc phải đi, cũng tìm được đường trốn ra ngoài. Chỗ tốt hơn thì không đi được, chỉ có những nơi như nước L, hình như đánh trận kiếm tiền là con đường duy nhất của bọn họ.”
Lăng Liệp cầm quả trái cây, cảnh tượng trước mắt bỗng nhuốm màu xưa cũ.
Mấy chục năm trước, những người trẻ tuổi nhà họ Đoạn phải trốn khỏi thôn Kim Hướng, “thiếu gia” mới mười mấy tuổi đã mang theo Hình Vĩnh Cường – tức Lão Đán sau này, cái gọi là đánh trận kiếm tiền thực chất là sang nước L làm lính đánh thuê. Cho đến ngày nay, nước L vẫn có rất nhiều lính đánh thuê, và đã hình thành một chuỗi ngành nghề.
Từ nhỏ Hình Vĩnh Cường đã quen chịu khổ, mạng sống như cỏ rác, việc đánh trận kiếm tiền có sức hấp dẫn phi thường đối với ông ấy. Đánh giỏi, biết đâu còn có thể vượt lên trên người khác, đánh không giỏi, chết thì chết thôi. Nhưng “thiếu gia” lớn lên trong nhung lụa, đương nhiên cũng có nhiều điều phải lo lắng hơn.
Nhóm người này sau khi mới đến nước L vẫn còn thư từ qua lại với quê nhà, nhưng tại sao lại mất liên lạc? Lão trưởng thôn đoán rằng bọn họ đều đã chết, nhưng rõ ràng là Hình Vĩnh Cường vẫn còn sống. Ông ấy thà đổi tên, ngủ dưới gầm cầu ở thành phố Hạ Dung chứ nhất quyết không chịu về quê. Ông ấy lại không phải người nhà họ Đoạn, có ngồi tù cũng không đến lượt ông ấy.
Vì ông ấy sợ bị tìm thấy.
Lăng Liệp hỏi: “Những lá thư đó cháu có thể xem được không?”
Lúc này lão trưởng thôn có chút cảnh giác, “Cậu xem thì có ích gì?”
Lăng Liệp nói: “Cũng không có ích gì ạ, không xem cũng được. Chúng ta nói chuyện tiếp nhé? Ông đã đến thành phố Hạ Dung bao giờ chưa?”
Lão trưởng thôn nói: “Xa thế, chưa đi bao giờ. Thành phố lớn mà. Cậu đi rồi à?”
“Thực ra cháu chính là từ đó đến. Không giấu gì ông nữa, người nhà cháu nói nhìn thấy một người rất giống Hình Vĩnh Cường ở thành phố Hạ Dung, nhưng thoáng cái đã không thấy đâu nữa, cháu mới đến đây hỏi thăm xem sao.”
Mắt lão trưởng thôn trợn tròn như mắt bò, “Hình Vĩnh Cường về rồi? Vậy ‘thiếu gia’ thì sao?”
Lăng Liệp nói: “Cháu cũng không biết nữa. Hay là thế này, ông nói cho cháu biết tên ‘thiếu gia’ là gì? Chuyến này về cháu sẽ hỏi thăm kỹ càng hơn.”
Lão trưởng thôn xúc động, “Cậu ấy tên là Đoạn Vạn Đức, người nhà họ Đoạn hy vọng cậu ấy có vạn điều công đức, làm việc thiện tích phúc. Thôi được rồi, nếu cậu có cách dò hỏi thì tôi cũng không giấu thư từ nữa, cậu đi theo tôi.”
Lăng Liệp theo lão trưởng thôn vào một căn nhà lầu kiểu Tây, trên tầng hai có một phòng sách, giá sách cũ kỹ, sách trên đó đều đã ố vàng. Lão trưởng thôn lấy một chiếc hộp nhỏ có khóa từ trên nóc tủ xuống, mở ra, bên trong toàn là thư từ.
Lão trưởng thôn đeo kính lão, tìm ra ba bức thư do người nhà họ Đoạn gửi về, “Chỉ có ba bức này thôi.”
Thư được bảo quản rất tốt, Lăng Liệp cẩn thận mở ra, trên giấy đã ố vàng là nét chữ cứng cáp, rất có tính thẩm mỹ.
Bức thư đầu tiên kể về việc mới đến nơi ở mới, ngôn ngữ bất đồng, cuộc sống nay đây mai đó, tình hình bất ổn ở nước L nghiêm trọng hơn tưởng tượng, mọi người vẫn chưa ổn định cuộc sống, nhưng xin bà con đừng lo lắng.
Bức thư thứ hai có nội dung dài hơn, nói rằng bọn họ đã tìm được chỗ ở, kết giao được với bạn bè ở địa phương, tuy cuộc sống hàng ngày đều đối mặt với nguy hiểm, nhưng mọi người đều đang cố gắng nỗ lực.
Bức thư cuối cùng cách bức thứ hai một khoảng thời gian khá dài, nói rằng bọn họ đã đứng vững gót chân, đội ngũ cũng đang phát triển lớn mạnh, không cần phải lo lắng.
“Tôi vốn tưởng bọn họ sẽ ngày càng tốt hơn, vài năm nữa bọn họ về cũng không thành vấn đề gì. Nhưng không ngờ bức thư này lại là bức cuối cùng.” Lão trưởng thôn nhìn ánh nắng ngoài cửa sổ, “Bọn họ ấy à, không bao giờ về nhà được nữa rồi.”
Lăng Liệp chú ý thấy cả ba bức thư đều ký tên “Đoạn Vạn Đức”, và nơi gửi bức thư cuối cùng phiên âm ra là thị trấn Tát Lâm Gia Ô Khắc.
Thị trấn Tát Lâm Gia Ô Khắc.
Lăng Liệp biết khu vực Tát Lâm Gia Ô Khắc, đó là một khu vực lớn ở phía nam nước L, bao gồm cả thị trấn Trác An mà Dụ Cần từng đến – Dụ Cần và Sa Mạn gặp nhau ở thị trấn Trác An, mà Tất Giang cũng gặp Sa Mạn ở thị trấn Trác An.
Sau khi chụp ảnh ba bức thư, Lăng Liệp cảm ơn lão trưởng thôn. Lúc này, ngược lại lão trưởng thôn lại nói nhiều hơn một chút, ông dặn dò hắn: “Nếu các cậu thật sự tìm được Hình Vĩnh Cường, cũng đừng làm khó nó. Nhà nó nợ tiền không phải lỗi của nó. Tính nó không xấu, nhà họ Đoạn cưu mang nó, nó thà làm một con chó cho nhà họ Đoạn cũng phải báo đáp bọn họ.”
“Một con chó?” Lăng Liệp hỏi: “Là sao ạ?”
Lão trưởng thôn giải thích, cách nói “chó” này là nói hơi quá, ông chỉ muốn diễn tả sự trung thành của Hình Vĩnh Cường đối với nhà họ Đoạn thôi.
Hình Vĩnh Cường chỉ là một đứa trẻ, chẳng có mấy tác dụng. Để khiến mình trở nên có ích, cậu ấy đã đi học võ, “thiếu gia” đi đâu, cậu ấy đi theo đó, quyết không để “thiếu gia” bị tổn thương dù chỉ một chút. Ngược lại thì bản thân cậu ây vì luyện võ mà chịu rất nhiều vết thương. Người nhà họ Tào, họ Dương mắng cậu ấy là chó của nhà họ Đoạn, cậu ấy lại còn rất tự hào, nói mình là chó thì cũng là con chó trung thành.
Lăng Liệp lại hỏi một câu: “Có phải trước kia nhà họ Đoạn rất chuộng mấy thứ phong thủy mê tín không ạ?”
Lão trưởng thôn hơi tức giận, “Cậu nghe ai nói bậy bạ vậy? Nhà họ Đoạn ban đầu cũng bị áp bức, bọn họ coi thường nhất là mấy trò này! Đã sớm bảo chúng tôi phải tin vào khoa học rồi!”
Lăng Liệp nói: “Vậy Hình Vĩnh Cường chắc cũng không tiếp xúc với những thứ này đâu nhỉ?”
“Đương nhiên là không! Thứ mà nhà họ Đoạn không chấp nhận, sao nó có thể chấp nhận được?” Lão trưởng thôn bực bội nói, “Không phải tôi khoe với cậu đâu, thôn Kim Hướng chúng tôi là nơi bài trừ mê tín phong kiến sớm nhất đấy. Mấy năm trước cán bộ thôn, sinh viên về hướng dẫn, các thôn khác không hợp tác, chúng tôi còn được khen là tiên tiến, đây đều là công lao của nhà họ Đoạn cả!”
Từ biệt lão trưởng thôn, Lăng Liệp một mình đi giữa cánh đồng bên ngoài thị trấn Kiển Lĩnh. Lúc này là mùa nông nhàn, trên đồng không có người, cỏ dại mọc lan tràn, gió lạnh thổi qua, cỏ dại dập dờn như sóng biển.
Người nhà họ Đoạn trốn sang nước L đã mất liên lạc với quê nhà mười mấy hai mươi năm trước, những người già trong thôn còn nhớ đến bọn họ đều tưởng bọn họ đã chết. Nhưng “con chó” của nhà họ Đoạn là Hình Vĩnh Cường lại một mình quay về, sống một cuộc sống hoàn toàn khác trước, còn trở thành kẻ hành nghề mê tín mà nhà họ Đoạn coi thường nhất.
Người mà ông ấy trốn tránh không phải ai khác, mà là nhà họ Đoạn? Ông ấy cho rằng mình đổi tên, sống bằng nghề mà nhà họ Đoạn tuyệt đối không bao giờ bén mảng tới thì nhà họ Đoạn sẽ không tìm được ông ấy?
Việc chọn thành phố Hạ Dung là ngẫu nhiên, ông ấy không thể đến bất kỳ thành phố nào có thể khiến nhà họ Đoạn liên tưởng tới, đương nhiên càng không thể về quê.
Ở nước L, ông ấy và nhà họ Đoạn đã xảy ra mâu thuẫn gì? Kẻ giết ông ấy là người nhà họ Đoạn? Hay là người có liên quan đến nhà họ Đoạn? Là kẻ thù?