Đứa con thứ hai của hai bọn ta tên là Trương Tu.
Cái tên này là do Tịch Ngân đặt cho thằng bé. Ta còn nhớ khi đặt tên, Tịch Ngân nói những thứ khác đều không quan trọng, chỉ hy vọng thằng bé lớn lên trông tuấn tú, tốt đẹp một chút.
*Chữ Tu (修) mang nghĩa sửa sang, bồi đắp, tốt đẹp.
Ban đầu ta không thích cái tên này lắm, nhưng sau này gọi nhiều rồi cũng dần thành quen.
Dù A Tu luôn sống trong cung Lạc Dương, nhưng tính cách lại không quá giống ta. Ngược lại, thằng bé là một đứa trẻ dịu dàng. Sự hiện diện của thằng bé sau này đã trở thành một cơ duyên giữa ta và Từ Uyển.
—
Cung Lạc Dương nơi ta ở luôn rất yên tĩnh.
A Tu và con gái của Bình Tuyên là hai đứa trẻ duy nhất trong cung.
Ngây thơ hồn nhiên, người trong cung đều rất yêu quý chúng, ngay cả người trầm ổn như Tống Hoài Ngọc cũng thường xuyên bị bọn trẻ rượt đuổi chạy quanh trong những ngày tuyết lớn. Con gái của Bình Tuyên tên là A Dĩnh, nghe nói cái tên này là do Từ Uyển đặt cho con bé. Có điều con bé không có họ, người trong cung cũng không dám tự tiện hỏi han. Chỉ có một lần Tống Hoài Ngọc dẫn người của Cung chính ti đến hỏi về cách xưng hô với A Dĩnh, ta hỏi họ hiện giờ đang gọi thế nào, Cung chính ti không dám đáp lời, Tống Hoài Ngọc đành phải cẩn trọng thưa ở bên cạnh: “Dạ, gọi là tiểu điện hạ ạ.”
Ta gật đầu, bảo rằng trẫm chưa từng phế truất mẫu thân con bé, gọi như vậy tự nhiên là hợp lẽ.
Tống Hoài Ngọc nói A Dĩnh trông rất giống Trương Bình Tuyên.
Mà ta chưa bao giờ đi thăm A Dĩnh, không phải vì ta còn oán hận gì muội muội mình, chỉ là gặp mặt lại nhớ người cũ, ta không đành lòng mà thôi.
Cho đến một ngày, A Tu dắt tay A Dĩnh, cả người lấm lem bùn đất bước vào điện Côn Hoa, đứng trước mặt ta nói: “Cha ơi, A Dĩnh tỷ ngã bị thương rồi.”
Tống Hoài Ngọc đi theo sau, quỳ xuống lưng A Tu thưa: “Bệ hạ, là lão nô không tốt, nhất thời không trông nom kỹ, để hai vị điện hạ leo lên đài Kim Lăng chơi, nên mới…”
Ta nhìn về phía A Tu, bộ bào bằng gấm trên người nó có vài chỗ bị rách, trên mặt cũng có vài vết bầm tím.
Thấy ta không nói lời nào, thằng bé liền nhẹ nhàng buông tay A Dĩnh ra, tiến lên vài bước quỳ xuống nói: “Nhi thần biết lỗi, xin cha trách phạt.”
Lời còn chưa dứt, một giọng nói trong trẻo đã ngắt lời A Tu.
“Không liên quan đến A Tu đâu, là ta… là ta muốn lên đài Kim Lăng chơi, A Tu không cho ta lên, ta còn cứ kéo bằng được đệ ấy lên cùng. Nếu không phải vì giữ ta lại thì đệ ấy cũng không ngã thành thế này. Bệ hạ muốn trách phạt thì xin hãy phạt ta!”
Đối với ta, cao độ và ngữ khí trong lời nói này thực sự quá đỗi quen thuộc.
Ta không kìm được mà nghiêng đầu nhìn con bé. Con bé đứng trước bình phong, mặc váy loang màu đỏ bạc đan xen, trên đầu cài một đôi vòng bạc, ngay cả dáng dấp và lễ nghi hành xử cũng giống Bình Tuyên đến nhường ấy.
Nói xong, con bé định tiến lên kéo A Tu dậy.
Tống Hoài Ngọc hốt hoảng giữ con bé lại, khẽ khuyên: “Tiểu điện hạ, đây là điện Côn Hoa, tiểu điện hạ không được càn rỡ.”
A Tu thì ngẩng đầu nói với ta: “Không phải ạ, là nhi thần không giữ được tỷ, để tỷ ấy bị ngã thương. Tỷ ấy vừa mới chảy máu đấy ạ, cha ơi, nhi thần xin cha truyền thái y đến khám vết thương cho tỷ tỷ.”
Ta cúi đầu nhìn A Tu: “Tội khi quân là tội gì, con có biết không?”
Vai A Tu khẽ run: “Nhi thần không dám.”
A Tu thực sự không hẳn là một đứa trẻ quá cứng cỏi, nhưng lúc này lại cắn chết lời mình vừa nói, nhất quyết không chịu đổi miệng.
A Dĩnh mím môi, đi tới bên cạnh quỳ xuống cùng nó, bảo: “Đệ ấy chính là sợ ngài phạt ta đấy.”
Nói đoạn, con bé ngẩng đầu nhìn ta, nghển cổ lên bảo: “Tổ mẫu nói rồi, bảo ngài hở một tí là giết người… Thế nhưng… thế nhưng không sao cả, ta không sợ, lỗi cháu phạm ta tự chịu, ngài chắc sẽ không…”
“Tiểu điện hạ!”
Tống Hoài Ngọc gần như bị nha đầu này dọa cho đổ mồ hôi lạnh.
Ta lắc đầu mỉm cười, nhất thời cảm thấy bùi ngùi.
“Bệ hạ…”
Tống Hoài Ngọc thấy ta mãi không lên tiếng, không nhịn được mà gọi ta một tiếng.
Ta ra hiệu cho cung nhân đỡ hai đứa trẻ dậy trước, cúi đầu bảo Tống Hoài Ngọc: “Truyền thái y qua đây.”
Tống Hoài Ngọc vâng lệnh, vội vã cáo lui đi ra ngoài.
Lúc này ta mới ra hiệu cho A Tu lại gần, kéo tay áo nó lên xem chỗ bị thương. Ánh mắt A Tu cứ liếc về phía sau, người cũng bồn chồn không yên. Ta buông cánh tay thằng bé xuống, bình thản nói: “Trẫm sẽ không trách phạt nó, yên tâm.”
A Tu nghe thấy câu này, cuối cùng mới giãn chân mày ra.
Một lát sau, Tống Hoài Ngọc từ bên ngoài trở về, khom người bẩm báo: “Bệ hạ, nương nương ở điện Kim Hoa tới ạ. Tới để tìm… tiểu điện hạ.”
Mọi người trong điện tất cả đều có chút kinh hoàng. Bởi dù cùng ở trong cung Lạc Dương, tuy thỉnh thoảng ta có đi thăm Từ Uyển, nhưng bà chưa bao giờ chịu bước chân ra khỏi điện Kim Hoa.
“Nương nương nghe nói tiểu điện hạ gặp chuyện nên lo lắng phát khiếp.”
Tống Hoài Ngọc khom người bồi thêm một câu.
A Dĩnh nhìn ta nói: “Ta muốn về.”
Ta không đáp lại gì, bảo Tống Hoài Ngọc: “Đưa con bé ra ngoài đi, bảo thái y cũng sang điện Kim Hoa luôn.”
Tống Hoài Ngọc nhận lệnh, vội vàng dắt tay A Dĩnh đưa con bé đi.
A Tu nhìn theo A Dĩnh và Tống Hoài Ngọc rời đi, chỉnh đốn lại y phục của mình, đứng dậy rồi lại quỳ xuống lần nữa, phủ phục bái lạy.
Ta hỏi thằng bé vì sao lại bái lạy, nó nói là để tạ ơn ta đã không trách phạt A Dĩnh.
Ta đưa tay đỡ thằng bé đứng dậy, nó vội vàng tự mình lau sạch bụi đất trên mặt.
Ta hỏi thằng bé: “Tại sao con lại một mình gánh hết mọi lỗi lầm?”
Thằng bé buông tay xuống, ngẩng đầu nhìn ta đáp: “Bởi vì nhi thần muốn bảo vệ tỷ tỷ thật tốt.”
Ta không biết Trương Bình Tuyên liệu có nghe thấy câu nói này của A Tu không.
Nhưng ta lại nhớ tới lúc còn nhỏ, ta cũng từng bảo vệ muội muội mình như A Tu vậy. Và muội ấy cũng từng đứng ra bảo vệ ta như cách A Dĩnh vừa làm.
Đã bao nhiêu năm trôi qua, hương vị của chiếc bánh bao mà muội ấy lén đưa cho khi ta bị phạt quỳ trong từ đường, đến tận bây giờ ta vẫn còn nhớ rõ.
Nếu muội ấy ở dưới suối vàng có linh thiêng, ta rất muốn muội ấy nghe ta nói: Muội vẫn luôn là muội muội duy nhất của ta, nếu có thể làm lại một lần nữa, ta nghĩ mình sẽ dốc hết sức để bảo vệ muội tốt hơn một chút.
—
Đêm hôm đó, tại Thanh Đàm Cư, ta đã kể lại chuyện này cho Tịch Ngân nghe.
Tịch Ngân tựa vào bên cạnh ta hỏi: “A Tu của chúng ta lớn thật rồi phải không?”
Ta gật đầu: “Phải, cao bằng A Quyết rồi.”
Tịch Ngân mỉm cười: “Hèn gì, đã hiểu chuyện đến thế rồi.”
Nàng nói đoạn, nhấp một ngụm trà, ngước lên bảo: “Đã lâu rồi ta không thấy con gái của điện hạ. Con bé giờ trông thế nào rồi?”
Ta cúi đầu nhìn nàng đáp: “Lớn hơn A Quyết một chút, trông rất giống Bình Tuyên.”
“Vậy thì chắc chắn cũng là một cô nương xinh đẹp rồi.”
Nàng nói xong, gọi một tiếng: “A Quyết.”
A Quyết đang ngồi một bên viết chữ, nghe Tịch Ngân gọi liền gác bút chạy lại, nhào thẳng vào lòng nàng.
“Mẹ ơi, con không muốn viết nữa đâu.”
Tịch Ngân véo mũi con bé: “Mẹ mới vừa nói xong đấy, con sắp bị tỷ tỷ con vượt qua rồi, thế mà lại dám lười biếng.”
“Tỷ tỷ ạ?”
A Quyết thò cái đầu nhỏ từ trong lòng Tịch Ngân ra: “A Quyết còn có tỷ tỷ nữa ạ?”
Tịch Ngân ôm con bé bảo: “Có chứ, A Quyết của chúng ta có tỷ tỷ mà.”
“Thế tại sao tỷ ấy không bao giờ chơi cùng A Quyết vậy mẹ?”
“Ưm…”
Tịch Ngân không biết trả lời thế nào, nghiêng đầu nhìn ta. Ta cúi người bảo A Quyết: “Con có muốn chơi cùng tỷ tỷ không?”
“Muốn ạ, con sẽ cho tỷ tỷ chơi cùng mấy vị tiên tử của con.”
Con bé nói rồi hớn hở chỉ tay về phía chiếc rương nhỏ của mình.
“Được, đến ngày Tết Trung thu, cha hứa sẽ đưa tỷ tỷ và A Tu đến chơi với con.”
“Hay quá!”
Con bé suýt nữa thì nhảy cẫng lên khỏi lòng Tịch Ngân, làm cho Tuyết Long Sa đang nằm phục bên cạnh cũng phải chống hai chân trước dậy kinh ngạc.
Tịch Ngân nhìn rồi bảo: “Thoái Hàn, con bé chỉ nói thế thôi, chàng hà tất phải vậy. Có thể đưa A Tu đến cùng chơi là bọn ta đã vui lắm rồi. Còn về phần con gái của điện hạ… thôi bỏ đi.”
Ta biết Tịch Ngân đang lo lắng điều gì, nhưng cho dù không phải vì A Quyết, ta cũng muốn thử một lần.
—
Vào ngày Tết Trung thu năm ấy, ta đứng ngoài điện Kim Hoa đợi ròng rã suốt hai canh giờ.
Lúc phố xá bắt đầu lên đèn, A Tu cuối cùng cũng dắt tay A Dĩnh từ trong điện bước ra.
“Cha ơi, lão nương nương đã cho phép tỷ tỷ theo chúng ta đi tìm mẹ rồi ạ.”
A Dĩnh ngẩng đầu nhìn ta: “Ngài định đưa ta ra khỏi cung thật sao?”
“Ừ.”
“Thật sự được ra ngoài cung sao?”
A Tu lay lay tay áo con bé: “Thật sự ra ngoài cung mà, tỷ yên tâm đi, mẹ đệ dịu dàng lắm, hiền hậu lắm, còn biết làm thật nhiều, thật nhiều món ngon nữa.”
A Dĩnh né tránh tay A Tu, có chút kháng cự lùi lại một bước.
Ta quỳ một chân xuống, chìa một bàn tay về phía con bé: “Không phải con nói là không sợ ta sao?”
Nghe ta nói vậy, con bé mới nắm lấy tay ta: “Đúng, ta không sợ ngài.”
Ta dắt con bé đứng dậy, ngoảnh lại bỗng thấy Từ Uyển đang đứng trước cửa điện Kim Hoa.
Bà đã già đi nhiều, hai bên tóc mai trắng xóa, tấm lưng cũng hơi còng xuống.
Ta nhìn bà, bà cũng lặng lẽ nhìn ta.
Đến tận bây giờ, hai mẫu tử bọn ta vẫn chưa tìm thấy một cách thức chung sống nào mà cả hai có thể chấp nhận, nhưng ít nhất, bà không còn dùng cái chết để trừng phạt ta nữa. Bà còn sống, còn tình nguyện nhìn ngắm con cái của Tịch Ngân và ta, đối với ta như vậy đã là quá đủ rồi.
A Dĩnh vẫy vẫy tay với Từ Uyển, đồng thời cũng kéo theo tay ta cùng vẫy.
“Tổ mẫu, A Dĩnh sẽ sớm về với người.”
Từ Uyển mỉm cười với con bé, rồi quay người đi vào sau bức rèm trúc.
Mười mấy năm rồi, đó là lần đầu tiên ta thấy Từ Uyển cười.
—
Trung thu năm thứ mười hai, có lẽ là cái Tết Trung thu náo nhiệt nhất mà ta từng trải qua trong đời.
Tịch Ngân đặt một chiếc án gỗ dưới gốc mai lùn trong Thanh Đàm Cư, thịt bò nướng thơm lừng, bánh hồ, cùng đủ loại hoa quả bày biện đầy ắp.
A Quyết vốn là một cô bé hoạt bát, cứ kéo A Dĩnh đến trêu chọc con Tuyết Long Sa đang nằm phục dưới đất. A Tu ở bên cạnh không ngừng nhắc nhở: “A Quyết, tỷ cẩn thận chút, nó không quen tỷ tỷ, sẽ hung dữ với tỷ ấy đấy.”
A Quyết bảo: “Thế sao đệ còn đứng xa thế.”
A Tu nghe xong không chịu, lấy hết can đảm bước lên chắn trước mặt A Dĩnh: “Tỷ đừng sợ.”
Cảnh tượng này khiến Tống Hoài Ngọc cũng phải bật cười thành tiếng.
Tịch Ngân đặt chén trà trong tay xuống, bước đến bên cạnh ta, nhìn ba đứa trẻ rồi hỏi: “Chàng đưa tiểu điện hạ ra ngoài, nương nương không trách mắng chàng chứ?”
Ta lắc đầu: “Không phải ta đưa con bé ra đâu.”
“Vậy là ai?”
Ta nhìn về phía A Tu.
Tịch Ngân nhìn theo ánh mắt của ta, mỉm cười bảo: “Thật tốt quá. À, đúng rồi?”
“Chuyện gì?”
“Thằng bé đã bắt đầu đọc sách chưa?”
“Đọc rồi.”
“Đọc sách gì vậy?”
“Ta mệnh cho văn sĩ Chu Lệnh làm thầy của thằng bé, bắt đầu học từ bộ Kinh Dịch, dạy nó theo Nho học.”
Tịch Ngân nghe xong có chút nghi hoặc: “Chàng… vốn không tin Nho đạo Phật giáo, tại sao lại để Chu Lệnh làm thầy của A Tu?”
Ta nhìn A Tu đang chắn trước mặt A Dĩnh, bình thản đáp: “Thằng bé hợp với con đường đó.”
Nói xong câu này, trong đầu ta không khỏi nhớ tới Trần Hiếu.
Sau khi Trần Hiếu chịu hình, ta không bao giờ nhắc đến hai chữ “Sầm Chiếu” nữa, ta luôn cảm thấy đó chỉ là một lớp da của y mà thôi. Còn con người thực sự của Trần Hiếu như thế nào, tài hoa và khí độ mà y sở hữu, ta thậm chí còn hiểu rõ hơn cả Tịch Ngân. Vì vậy ta không thể giống như đám người Giang Thấm, viết ra hàng ngàn chữ để thóa mạ y.
Y chết đi dĩ nhiên là sự im lặng, còn ta sống, cũng chỉ còn lại sự im lặng.
Thực ra nếu gặp năm tốt, hạng người như ta sẽ phải quỳ trên pháp trường chịu hình, còn đạo lý của những người như Trần Vọng, Trần Hiếu, Trương Hề mới được phát ra thứ ánh sáng lớn. Thế nên, ta chưa bao giờ cảm thấy giữa Nho gia và Pháp gia có bất kỳ sự hơn kém nào. Sự cao thấp của chúng chẳng qua là sự lựa chọn của thế đạo mà thôi. Vậy nên ta không vì giết người mà hổ thẹn, nhưng nếu khí tiết trong tâm khảm họ vẫn còn, ta cũng muốn giữ lại cho họ, để lại cho con cháu đời sau làm một cuộc lựa chọn khác.
Ý nghĩ này không phải ngay từ đầu ta đã có.
Hồng trần như địa ngục Tu La, con người ban đầu đa phần là vì cầu sống, cầu một thân xác có tri giác để trải qua cực hình, nắng gắt rét căm, roi vọt gậy gộc, đói khát mệt mỏi… Tuy ta không tin phật, nhưng ta tán đồng phương pháp tu luyện của một vài tông phái: thân xác chịu đủ đọa đày, thậm chí thịt náy xương tan, từ đó mà quên mình, đạt đến vô ngã, cuối cùng mới vượt sang bờ bên kia, giao phó tâm thần cho Phật Đà.
Mà ta chẳng qua là tu theo đạo thế tục, ban đầu thịt nát xương tan, cuối cùng cũng không thẹn với lòng.
Thân xác phàm trần cuối cùng rồi cũng sẽ tiêu biến cùng Trần Hiếu mà thôi.
Dù vậy, sau khi thân xác và linh hồn phân tách, những đạo nghĩa lý lẽ mà bọn ta để lại cho người đời sau đều sẽ không ít đi chút nào.
Những điều này… quả thực có chút phức tạp, thậm chí rơi vào những buổi thanh đàm luận thuyết không có ý nghĩa thực tế. Ngay cả khi ta nói cho Tịch Ngân nghe, nàng cũng chẳng muốn bận tâm suy nghĩ làm gì.
Nàng chỉ muốn quan tâm đến những người và những việc nàng muốn quan tâm, lặng lẽ và bình thản đi cùng ta suốt cuộc đời.
“A Quyết.”
“Dạ?”
“Lại đây với mẹ nào.”
A Quyết buông tay A Dĩnh, tung tăng chạy lại: “Mẹ gọi con có chuyện gì thế?”
Tịch Ngân đưa một chiếc áo khoác cho A Quyết: “Đi hỏi tỷ tỷ xem tỷ tỷ có lạnh không.”
A Dĩnh dường như nghe thấy lời Tịch Ngân, ngoảnh lại bảo: “Ta không lạnh.”
Tịch Ngân ngẩn ra, dường như cũng chưa quen lắm với sự thẳng thừng của con bé, nhưng nàng không hề biểu lộ ra mặt, dắt tay A Quyết đi đến bên cạnh con bé nói: “Vậy ta lấy một ít thịt muối, con và A Quyết cùng cho chó ăn có được không?”
Con bé cúi đầu dường như đang do dự, Tịch Ngân cũng không thúc giục, lặng lẽ đợi câu trả lời. Hồi lâu sau, con bé cuối cùng cũng khẽ vâng một tiếng. Tịch Ngân mỉm cười, đưa tay thử vuốt lại mái tóc cho con bé.
“Nhìn xem, chơi đến mức này rồi, lát nữa ta sẽ giúp con và A Quyết chải lại tóc, để còn ra ngoài xem náo nhiệt.”
A Quyết hớn hở: “Mẹ chải tóc đẹp lắm đấy ạ.”
Nói xong, con bé quay sang bảo ta: “Cha ơi, lát nữa ra ngoài A Quyết muốn được cưỡi cổ cha cơ.”
A Dĩnh vân vê miếng thịt muối trong tay, không nói lời nào.
A Tu thấy con bé không vui, vội hỏi: “Tỷ ơi tỷ sao thế?”
A Dĩnh lắc đầu.
Tịch Ngân nhìn dáng vẻ của A Dĩnh, trầm mặc một lúc, rồi dắt tay con bé và A Quyết bảo: “Ta đưa hai đứa nhỏ vào trong sửa soạn một chút.”
Ta không biết Tịch Ngân đã nói gì với A Dĩnh và A Quyết trong phòng.
Ta chỉ biết, trên đường phố đêm Trung thu, A Quyết một tay dắt Tịch Ngân, một tay dắt A Tu, suốt cả đoạn đường không hề buông ai ra.
A Dĩnh một mình đi bên cạnh ta, im lặng không nói, nhìn Tịch Ngân mua đèn cho A Quyết bên lề đường, con bé cũng chỉ đứng cạnh ta chờ đợi. Ta cúi người hỏi con bé: “Con có muốn một chiếc đèn không?”
Con bé lắc đầu, bỗng nhiên quay sang hỏi ta: “Mẹ và cha của ta, tại sao họ không còn nữa?”
Ta cúi xuống hỏi: “Tổ mẫu của con chưa từng nói với con sao?”
A Dĩnh lắc đầu.
“Chưa, nhưng ta có nghe người khác nói, bảo họ… là những người có tội.”
Con bé nói xong câu này, ta cũng rơi vào trầm mặc. Con bé đưa tay lên dụi dụi mắt.
“A Quyết có cha và mẹ ở bên, thật tốt quá.”
“Đừng khóc.”
“Ta còn lâu mới khóc.”
Lời của nha đầy này chẳng bao giờ tin được, âm cuối còn chưa dứt, nước mắt đã rơi lã chã.
Nhưng con bé cũng thực sự bướng bỉnh, mím chặt môi, nhất quyết không phát ra tiếng khóc.
Ta có chút hốt hoảng nhìn về phía Tịch Ngân, Tịch Ngân mỉm cười chỉ chỉ vào những người đang bế con xem đèn hoa đăng trên phố.
Ta không còn cách nào khác, đành ngồi thụp xuống, dang rộng cánh tay bảo: “Đừng khóc nữa, ta bế con đi xem hoa đăng.”
Vừa nói xong, A Tu cũng chạy tới, đưa một chiếc đèn hình quả đào vào tay A Dĩnh: “Tỷ đừng khóc, đèn của đệ cũng cho tỷ này.”
A Quyết cũng sáp lại gần: “Cả của muội nữa.”
A Dĩnh cầm lấy hai chiếc đèn nhỏ, cuối cùng cũng từ từ ngừng khóc. Thế nhưng khi nhìn vào bờ vai của ta, con bé vẫn còn chút do dự.
Tịch Ngân gọi A Quyết và A Tu quay lại, ta cũng cứ quỳ đó không nhúc nhích. Con bé đứng trước mặt ta lưỡng lự hồi lâu, cuối cùng cũng đưa tay ôm lấy cổ ta.
Thật khó để diễn tả hơi ấm mà đứa trẻ này mang lại cho ta, nó không giống với A Quyết hay A Tu.
Nụ cười của con bé có nghĩa là rất nhiều nút thắt không lời giải trên người ta đã bắt đầu từ từ nới lỏng.
—
Đêm về, Tịch Ngân nằm bên cạnh ta, lũ trẻ cũng đã ngủ say ở gian phòng bên cạnh.
Tịch Ngân trở mình hỏi ta: “Ngày mai khi nào chàng đưa hai đứa trẻ đi?”
“Giờ Mão sẽ đi, ngày mai có buổi chầu triều.”
Tịch Ngân khẽ ôm lấy cánh tay ta: “Thật chẳng nỡ xa chàng chút nào. Thanh Đàm Cư đã lâu không náo nhiệt như thế này.”
Ta cúi đầu hôn lên trán Tịch Ngân.
“Cảm ơn nàng.”
Tịch Ngân cười một tiếng: “Cảm ơn ta vì chuyện gì?”
Nàng rõ ràng biết còn hỏi, ta cũng dứt khoát không đáp nữa.
“Thoái Hàn, ta mong điện hạ và ca ca đều có thể nhìn thấy A Dĩnh… À, đúng rồi.”
Nàng trở mình ngồi dậy: “Mùa xuân năm sau, ta muốn tới Giang Châu và Kinh Châu một chuyến.”
“Ta đi cùng nàng.”
Tịch Ngân lắc đầu: “Không cần đâu. Giang Châu là nơi chôn cất điện hạ và ca ca, họ đều là tội nhân của vương triều này. Chàng mà đi, Lạc Dương… sẽ có điều tiếng mất.”
Ta định bảo nàng rằng ta không hề bận tâm những điều đó, nào ngờ nàng nói tiếp: “Ta muốn đi một mình. Nếu có thể, ta cũng muốn dẫn theo A Quyết và A Dĩnh đi cùng.”
Ta do dự một hồi.
“Nàng muốn nói gì với A Dĩnh?”
Tịch Ngân lắc đầu: “Ta sẽ không nói gì với con bé cả, đó đã là chuyện của thế hệ trước rồi. Ta chỉ muốn dẫn con bé đi thăm cha mẹ con bé mà thôi.”
Ta trầm mặc giây lát, cuối cùng gật đầu đồng ý.
“Được, ta sẽ để Giang Lăng đưa mọi người đi.”
“Vâng. Cảm ơn chàng.”
“Đến lượt ta hỏi nàng cảm ơn ta vì chuyện gì rồi.”
“Cảm ơn chàng đã tình nguyện ở bên ta, và cũng tình nguyện thỉnh thoảng buông tay để ta rời đi.”
—
Mùa xuân năm thứ hai, đích thân ta đứng bên bờ Lạc Thủy tiễn Tịch Ngân xuôi nam đến Giang Châu.
Chuyến đi ấy, bọn ta đã xa cách nhau ròng rã nửa năm trời. Trong thời gian đó, nàng viết cho ta rất nhiều lá thư, kể rằng khi ở trên sông nàng đã đi ngang qua những quan tài treo sau cây vinh mộc năm nào, kể rằng nàng đã đến thăm phu phụ Hoàng Đức ở Giang Châu, lại còn ở lại vài ngày trong căn phòng nơi ta từng dưỡng thương năm xưa. Sau đó nàng lại vượt sông đến Kinh Châu, vào trong thành để ngắm hoa mai nở muộn mà nàng hằng mong nhớ.
Thế nhưng, điều khiến ta bất ngờ nhất lại là bức thư cuối cùng, nàng viết thế này:
“Thoái Hàn, ta đã gặp Triệu Khiêm ở Giang Châu, ngài ấy đã đổi tên họ, đầu quân dưới trướng Hoàng Đức.
Ngài ấy hỏi ta về tình hình gần đây của chàng, ta đã kể lại tỉ mỉ không sót một chuyện gì. Có vài chuyện có lẽ sẽ khiến lần tới gặp mặt chàng khó tránh khỏi bị ngài ấy trêu chọc, chàng đừng trách ta nhé.
Về phần Triệu Khiêm, ngài ấy vẫn như xưa, chẳng thay đổi là bao, vẫn cứ gọi ta là Tiểu Ngân Tử, Tiểu Ngân Tử, hễ nói là cười, hễ cười là nói năng tùy tiện.
Ta hỏi ngài ấy khi nào thì về Lạc Dương thăm chúng ta, ngài ấy bảo khi nào chàng không còn muốn giết ngài ấy nữa thì ngài ấy sẽ về. Ta cũng chẳng biết đó có phải lời thật lòng không. Sau đó, bọn ta dẫn theo A Dĩnh cùng đi thăm mộ của ca ca và điện hạ. Mộ của ca ca là do ta đắp, còn mộ của điện hạ là do Triệu Khiêm xây. Ta biết, ngài ấy vẫn luôn rất yêu mến điện hạ, vì thế ta đã nói cho ngài ấy biết thân thế của A Dĩnh. Thế nhưng ngài ấy dường như vẫn chưa hiểu được ý nghĩa của hoa vinh mộc, cứ liên tục nói với con bé rằng, đợi đến mùa thu sẽ dẫn con bé ra bờ sông hái loài hoa vinh mộc mà mẫu thân con bé yêu thích nhất. Ta đã suy nghĩ rất lâu, liệu có nên nói cho con bé biết ý nghĩa sáng nở tối tàn của hoa vinh mộc hay không, nhưng cuối cùng vẫn không thốt nên lời.
Thoái Hàn, ta nghĩ chúng ta đều có rất nhiều điều hối tiếc, cả đời này cũng không thể bù đắp nổi, nhưng ta hy vọng bản thân có thể dũng cảm thêm một chút nữa, giống như cách chàng đã dạy ta, dù chỉ có một thân một mình đơn thương độc mã, cũng phải bảo vệ tốt những người mà ta có thể bảo vệ. Ta cũng sẽ từ từ dạy cho con gái của chúng ta cách bước đi trên thế gian này, để khi yêu một người sẽ không bị trói buộc, và khi hận một người sẽ không bị chìm đắm lạc lối.”
Ta đọc xong bức thư này trong Đông hậu đường, rồi chậm rãi khép lại tập ghi chép mình đang viết dở.
Ngoài cửa sổ trăng thanh gió mát, bóng tùng trúc lặng lẽ rải trên lớp màn che.
Câu chuyện của ta và Tịch Ngân sau này vẫn còn rất dài và vô vị, cho đến lúc trung niên hồ đồ, rồi tuổi già hôn muội…
Còn thế hệ sau, chúng cũng có những đấu tranh và hòa giải của riêng mình. Mong cho chút lòng riêng của ta đặt hết lên người một mình Tịch Ngân, đến đây xin gác bút, hẹn gặp lại ở kiếp sau.
Hoàn toàn văn.