Toàn Cầu Hóa Xác Sống, Riêng Tôi Về Quê Làm Ruộng

Chương 64

Nhiệt độ về đêm hạ xuống, trời lại lất phất tuyết rơi dày hạt, quần áo ba người đều ướt sũng, Khương Tảo chẳng mấy chốc đã run rẩy đánh bò cạp, việc cấp bách lúc này là phải tìm một nơi tạm thời để tránh gió che mưa.

Văn Chiêu cởi áo khoác ngoài khoác lên người cô, đỡ người từ dưới đất lên: "Đi, rời khỏi đây trước đã."

Họ men theo dòng sông Bạch Sa trôi dạt xuống hạ lưu không biết bao xa, bản đồ để trong balo cũng bị nước ngâm rách bươm, mất phương hướng, họ đành phải đi dọc theo bờ sông, lội trong lớp tuyết ngập đến đầu gối.

Đôi môi Khương Tảo nhanh chóng tái nhợt, cộng thêm việc vừa trải qua cú sốc tâm lý quá lớn, tinh thần cô có chút hoảng loạn, bước chân lảo đảo rồi ngã quỵ xuống tuyết.

Văn Chiêu quay lại đỡ cô lên, lúc này mới phát hiện tuy tay chân cô lạnh buốt nhưng hai má lại ửng đỏ bất thường, sờ thử trán thấy nóng hầm hập, Khương Tảo bắt đầu phát sốt.

Vành mắt Văn Chiêu lại đỏ hoe, nước mắt suýt nữa lại trào ra.

"Tiểu Tảo, chị biết em đang rất khó chịu... coi như vì chị... cố gắng thêm chút nữa được không?"

Trên mặt Khương Tảo thậm chí không có lấy một nụ cười gượng gạo, cô như một con búp bê sứ vô hồn, chỉ ngây dại gật đầu.

Văn Chiêu hết cách, đành nắm lấy tay cô, kéo cô tập tễnh bước tiếp.

Gió tuyết ngày một dữ dội, gió bấc lạnh buốt cắt da cắt thịt kèm theo những hạt tuyết quất vào mặt khiến người ta không mở nổi mắt, bước chân Văn Chiêu cũng dần trở nên nặng nề, ngay khi hai người sắp kiệt sức và rơi vào tuyệt vọng, bóng dáng một căn nhà gỗ hiện ra trước mắt.

Cô ấy lảo đảo lao tới, trên cửa nhà gỗ móc một ổ khóa đồng đã rỉ sét, kẹp tóc đa năng cũng làm rơi mất nên Văn Chiêu đành phải dùng vai huých mạnh từng cái, may mà ổ khóa này cũng chẳng chắc chắn gì.

Rất nhanh nó đã rơi xuống đất.

Văn Chiêu nhìn quanh một vòng, đây có vẻ là một căn nhà của dân chăn cừu bị bỏ hoang, đã lâu không có người ở, bụi bặm phủ đầy.

Sau khi xác nhận an toàn, cô ấy mới kéo Khương Tảo đang tụt lại phía sau vào, đóng cửa lại, ngăn cách bão tuyết bên ngoài.

May mà những thứ như diêm và dụng cụ nấu nướng đều được bọc trong túi nilon nên không bị ngấm nước, Văn Chiêu nhớ lại đây là những thứ Khương Ngũ Ni đã thu dọn trước khi xuất phát, khóe mắt lại cay cay.

"Chị đi nhặt ít củi về nhóm lửa."

Khương Tảo liếc nhìn chiếc túi nilon màu đỏ quen thuộc mà Khương Ngũ Ni hay dùng để đựng bánh bao, rồi quay mặt đi.

"May mà ở đây là vùng chăn thả, thỉnh thoảng dân làng sẽ lùa trâu bò ra bờ sông uống nước, nên mới có căn nhà này, nếu không đêm nay chúng ta chẳng biết phải làm sao..."

Căn nhà tuy đã lâu không có người ở, nhưng những vật dụng sinh hoạt cơ bản vẫn còn, Văn Chiêu vừa khơi đống củi trong lò cho lửa cháy to hơn, vừa quay đầu lại nói chuyện với Khương Tảo, nhưng Khương Tảo chỉ lật người trên giường, quay mặt vào tường, ngay cả quần áo ướt cũng không thèm cởi.

Canh gừng rất nhanh đã nấu xong, ngay cả gừng cũng do chính tay Khương Ngũ Ni trồng, bà sợ say xe nên đã bọc sẵn vào túi cất vào túi áo từ trước.

Nếu bị say xe, có thể cắt một lát ngậm trong miệng, đó là mẹo dân gian bà hay dùng.

Khương Tảo nhìn những lát gừng nổi lềnh bềnh trong chén, bỗng nhiên gạt tay cô ấy ra, cánh tay ngâm trong nước sông lạnh buốt quá lâu, đã đau nhức khó chịu từ trước, Văn Chiêu không kịp phòng bị, bị gạt trúng, chén canh gừng rơi loảng xoảng xuống đất.

Lúc này dù là người hiền lành đến mấy cũng phải nổi nóng.

Cô ấy dùng sức bóp chặt vai Khương Tảo, bắt cô ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt mình.

"Em không muốn sống nữa phải không? Biết... biết em không muốn sống nữa thì... bà ngoại cũng chẳng cần phí sức cứu em làm gì!"

Vừa nãy dù cô ấy nói gì, làm gì, Khương Tảo đều phớt lờ, tự cô lập mình khỏi thế giới này, mãi cho đến khi cô ấy nhắc đến Khương Ngũ Ni, ánh mắt Khương Tảo mới có chút thay đổi, cô cắn chặt răng, toàn thân run rẩy, trong mắt ánh lên tia căm phẫn.

"Cho dù bây giờ em có chết đi, bà ngoại cũng không sống lại được, hay là nói, em muốn nhìn bà biến thành..."

Chưa dứt lời, một cái tát giáng thẳng xuống mặt Văn Chiêu, Khương Tảo nghiến răng, mắt đỏ vằn, thở hổn hển, trông như một con thú nhỏ bị thương đang vùng vẫy trong tuyệt vọng.

Cái tát của Khương Tảo rất mạnh.

Văn Chiêu chỉ nghiêng đầu, phun ra một búng máu, rồi lại múc một bát canh gừng khác, đưa đến tận tay cô.

"Bà ngoại... thực ra có để lại cho em một món đồ, nếu em muốn biết nó là gì, thì thay quần áo ướt ra, uống cạn chén này đi."

Khương Tảo nhận lấy chén canh từ tay cô ấy, cũng chẳng màng nóng lạnh, bưng lên tu ừng ực cạn sạch.

Văn Chiêu lấy từ trong balo ra một cuốn sổ được bọc cẩn thận trong túi nilon, đưa cho cô, Khương Tảo run rẩy nhận lấy, cẩn thận lật mở trang bìa đã hơi ẩm ướt.

《Phương pháp trồng trọt và phòng trừ sâu bệnh cho các loại cây nông nghiệp phổ biến》

Đập vào mắt là những dòng chữ nguệch ngoạc, ngón tay Khương Tảo ch*m r** v**t v* trên từng con chữ, dường như cô vẫn còn nhìn thấy hình ảnh Khương Ngũ Ni đeo chiếc kính lão gãy gọng, ngồi dưới ánh đèn nắn nót viết từng nét chữ theo cuốn từ điển.

Chữ bà viết không đẹp, thậm chí còn hơi vụng về, thỉnh thoảng gặp những từ khó không biết viết, bà còn dùng phiên âm để thay thế, vì thế đọc có chút khó hiểu, nhưng Khương Tảo vẫn đọc hết từng chữ một.

Khi đọc những dòng ghi chép đó, những ký ức ngày xưa lại ùa về.

"Không tập trung, vừa viết chữ vừa nói chuyện, chữ này viết sai rồi, viết lại."

"Tàm tạm thôi, bà lớn tuổi thế này rồi, nhớ được hết bảng phiên âm đã là tốt lắm rồi!"

"Để cháu xem bà viết những gì nào..."

Nhớ lại những lúc trêu đùa cùng Khương Ngũ Ni ngày trước, khóe môi Khương Tảo bất giác cong lên một nụ cười, nhưng khi lật sang trang tiếp theo, nụ cười ấy vụt tắt.

"Chu kỳ sinh trưởng trung bình của khoai tây là khoảng 90 ngày, khi mùa hè oi bức đến, nhiệt độ vượt quá 25 độ C, phần củ dưới đất sẽ ngừng phát triển, nên thời vụ gieo hạt càng sớm càng tốt. Thời điểm gieo hạt tốt nhất là khoảng từ giữa đến cuối tháng Hai đến đầu tháng Ba hàng năm (tùy theo tình hình thời tiết mỗi năm mà gieo sớm hoặc muộn hơn một chút, nhưng không được quá cuối tháng Ba)."

"Trước khi gieo hạt khoảng 10 ngày phải ủ mầm, làm như thế này này, cho khoai tây vào túi nilon, rồi đặt vào thùng carton, để ở nhà chính chỗ có lửa ấm nhưng tránh ánh sáng..."

Chỉ răn dạy ngoài miệng thôi chưa đủ, Khương Ngũ Ni sợ sau khi bà đi rồi, cô không nhớ nổi, nên đã chép lại... toàn bộ, còn bản thân cô lúc bà mới bắt đầu muốn học chữ đã nói những gì.

"Làm gì thế? Định thi đại học năm nay à?"

"Xì, bà chỉ nghĩ là, cháu lại không biết làm ruộng, bà phải ghi chép lại mấy phương pháp trồng trọt này, sau này, người làm nông ngày càng ít, trong nhà có lương thực, trong lòng mới không hoảng."

Hóa ra từ lúc đó, bà đã biết trước sẽ có ngày hôm nay rồi sao, so với cái chết, điều Khương Ngũ Ni sợ hơn cả là sau khi bà rời đi, cô sẽ không có cơm ăn, vì Khương Tảo trước kia, vô cùng căm ghét việc phải trở về nông thôn, làm một người nông dân bán mặt cho đất bán lưng cho trời.

Ngoài những loại củ cơ bản như khoai lang, khoai tây, còn có rất nhiều loại rau xanh, những loại họ từng trồng, những loại vì điều kiện hạn chế mà chưa trồng được, Khương Ngũ Ni sợ không đủ chi tiết, nên đã ghi chép lại tất cả.

Những ghi chép này đối với nền nông nghiệp hiện đại có lẽ không đủ khoa học, nhưng lại là kinh nghiệm sinh tồn của một người nông dân già chất phác.

Cuối cùng là lúa nước và lúa mì.

Khương Ngũ Ni viết thế này: "Vốn dĩ bà định dành chút thời gian ít ỏi còn lại, đích thân dẫn dắt các cháu trải nghiệm quá trình trồng lúa nước và lúa mì một lần, nhưng do điều kiện khách quan không cho phép, nên vẫn chưa thực hiện được."

"Bà đã viết lại toàn bộ kinh nghiệm trồng lúa nước và lúa mì của mình từ trước đến nay, nhưng so với trồng các loại hoa màu khác, trồng lúa nước và lúa mì phức tạp hơn rất nhiều, chất lượng hạt giống, thời tiết, đất đai, phân bón, sâu bệnh, chăm sóc ruộng đồng định kỳ... đều ảnh hưởng đến sản lượng của chúng. Đặc biệt là sau mạt thế, ruộng đất bỏ hoang lâu ngày khiến độ phì nhiêu của đất giảm sút, thuốc trừ sâu và phân bón cũng rất khó tìm, đây đều là những thách thức không nhỏ đối với người trồng trọt, mọi chuyện sau này chỉ có thể trông chờ vào sự tự lực cánh sinh của các cháu mà thôi."

"Dưới đây bà sẽ liệt kê một số phương pháp ủ phân và tìm kiếm nguồn phân bón trong điều kiện hạn chế, ví dụ như tro bếp là loại phân kali hoàn toàn tự nhiên, ngoài ra còn có thể tận dụng rác thải nhà bếp và phân chuồng để ủ phân..."

Ngón tay Khương Tảo lật qua từng trang, trên đó chi chít những lời dặn dò tỉ mỉ và cả những lo âu hiện lên qua từng câu chữ.

Đến dòng cuối cùng, Khương Ngũ Ni ký tên:

"Cuốn sổ này gửi đến Tảo Nhi thân yêu nhất của bà, mong cháu một đời bình an."

Lộp bộp ——

Lộp bộp ——

Những giọt nước mắt lã chã rơi trên trang giấy, làm nhòe đi nét mực, Khương Tảo vội vàng dùng ngón tay gạt đi, nhưng lau thế nào cũng không sạch, cho đến khi chạm vào mặt trong bìa sổ, dường như vẫn còn thứ gì đó.

Khương Tảo rút ra xem, là một bức thư dài.

"Tảo Nhi, khi cháu đọc được bức thư này, có lẽ bà đã không còn nữa. Thực ra bà cũng đắn đo rất lâu, không biết có nên viết bức thư này cho cháu hay không, nhưng bà vẫn nghĩ mình nên để lại cho cháu thứ gì đó, ngoài những thứ ghi chép trong cuốn sổ này."

Đêm hôm đó, sau khi thu dọn xong đồ đạc, Khương Ngũ Ni ngồi lặng lẽ một mình trong phòng rất lâu, cuối cùng bà quyết định tìm một tờ giấy viết thư, khom người lấy từ trong tủ đầu giường ra chiếc kính lão mà Khương Tảo tặng nhưng bà luôn cất kỹ không nỡ đeo.

Bà đeo nó lên lần cuối cùng, trông giống như một người trí thức thực thụ, bà vặn nắp bút máy, nắn nót viết từng chữ một.

"Bà muốn kể cho cháu nghe về quá khứ của bà, bà cũng giống cháu, sinh ra trong một gia đình nông thôn nghèo khó lạc hậu, bà xếp thứ năm trong nhà, nên đó chính là nguồn gốc cái tên của bà, dưới bà còn có hai người em trai nữa."

"Để phụ giúp gia đình, bà và các chị lớn phải ra ngoài làm thuê kiếm tiền từ rất sớm. Bà từng đi cắt tóc cho người ta, sửa giày, bưng bê rửa chén trong quán ăn, cũng từng phụ hồ ở công trường, xây nhà, làm đường sắt, tuy vất vả, nhưng đó thực sự là quãng thời gian bà vui vẻ nhất, có tiền tiêu lại không phải về nhà. Thời đó cũng không có chuyện tự do yêu đương, tất cả đều là cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, năm mười sáu tuổi, dưới sự sắp đặt của cụ ngoại cháu, bà được gả đến thôn Nguyên Khê, đổi lấy năm mươi đồng và một bao gạo, sau này bà mới biết, năm mươi đồng đó đã trở thành tiền học phí cho em trai bà lên huyện học, đến đây, tuổi thiếu nữ của bà coi như kết thúc."

"Sau khi lấy ông ngoại cháu, cuộc sống thật ra cũng chẳng khác mấy, vẫn phải quần quật làm lụng mỗi ngày, điểm khác biệt lớn nhất có chăng chỉ là... những trận đòn roi không còn giáng xuống người mẹ bà nữa, mà chuyển sang trút lên người bà."

"Ngoài mẹ cháu ra, thật ra bà từng có hai đứa con nữa, một đứa lúc còn trong bụng, một đêm ông ngoại cháu uống rượu say khướt về nhà, vì bà mang thai tháng cuối đi lại nặng nề, không ra mở cửa kịp, đã bị ông ta đấm đá một trận tơi bời... dẫn đến sảy thai."

"Đứa còn lại, là cậu con trai mà ông ngoại cháu ngày đêm mong ngóng, nhưng thật bất hạnh, lúc thằng bé mới hơn một tuổi, chập chững tập đi, thằng bé đi theo ông ngoại cháu ra đồng, ông ta uống say ngã vật ra bờ ruộng ngủ say sưa, lúc tỉnh dậy thì thằng bé đã mất tích."

"Bà và mấy thím trong thôn đổ xô đi tìm, đến tận tối mịt mới soi đèn pin tìm thấy thi thể sưng vù, mặt mũi biến dạng của thằng bé dưới hố xí cách ruộng vài trăm mét."

"May thay, mẹ cháu vẫn sống sót, năm sinh mẹ cháu, bà cũng chỉ mới ngoài hai mươi, bà không biết làm mẹ, nhưng khi thấy gã đàn ông đó vì mẹ cháu sinh ra là con gái mà định ném con bé xuống hố phân, lần đầu tiên bà đã phản kháng lại ông ta, cầm chiếc cuốc chém bị thương mặt ông ta."

"Khoảnh khắc ấy, trong lòng bà bỗng thấy nhẹ nhõm vô cùng, bà rất biết ơn vì lúc đó mình đã lựa chọn như vậy, giống hệt như hai mươi năm sau, mẹ cháu cũng đưa ra một lựa chọn tương tự."

"Nghĩ lại, thời gian mẹ cháu lớn lên bên bà còn không bằng thời gian cháu ở cạnh bà, con bé cứ như bản sao của bà vậy, từ nhỏ đã phải bươn chải kiếm tiền, đến lúc có giá trị lợi dụng, thì bị ông ngoại cháu bán vào một vùng núi khác, đổi lấy chiếc tivi màu to đùng trong nhà chúng ta."

"Sau khi mẹ cháu mất, nhìn khuôn mặt non nớt gần như đúc cùng một khuôn với mẹ cháu, bà thực sự không nỡ. Bà biết, nếu để cháu ở lại gia đình đó, e rằng cháu cũng sẽ phải chịu bi kịch giống như bà và mẹ cháu, vì vậy bà quyết tâm giữ cháu lại, nhưng đã vấp phải sự phản đối kịch liệt của ông ngoại cháu."

"Đó là lần thứ hai bà phản kháng ông ta, bà cầm dao phay định liều mạng với ông ta, ông ta có lẽ nhớ lại chuyện lần trước bà dùng cuốc bổ vào mặt mình, nên đành nhắm mắt làm ngơ cho cháu ở lại."

Trong ký ức của Khương Ngũ Ni, đó là lần thứ hai bà phản kháng lại cường quyền của chế độ phụ quyền gia trưởng, nhưng trong tâm trí Khương Tảo thì không phải vậy, những khoảnh khắc như thế đã diễn ra vô số lần.

Đến tuổi Khương Tảo phải đi học, trong nhà lại không có tiền nộp học phí, người ông ngoại trên danh nghĩa của cô chỉ rít thuốc lào phì phèo, bảo con gái con lứa học hành làm gì, đằng nào cũng chẳng nhét nổi chữ vào đầu, thà để nó theo Khương Ngũ Ni ra đồng làm việc cho xong, đến mười mấy tuổi thì tìm chỗ nào tử tế gả quách đi cho nhẹ nợ.

Khương Ngũ Ni ngày hôm đó nổi trận lôi đình, hất tung cả mâm cơm, Khương Tảo chưa từng thấy bà tức giận đến thế, bà chỉ thẳng mặt ông ngoại mà mắng: "Ông hủy hoại cả đời tôi, cả đời con gái vẫn chưa đủ sao, đến cả Tảo Nhi cũng không tha à?! Ngày nào tôi còn ở cái nhà này, đừng ai hòng động đến nó! Dù có phải đập nồi bán sắt tôi cũng phải nuôi nó ăn học đàng hoàng!"

Sau đó, Khương Ngũ Ni bán con bò cày trong nhà, rồi thức trắng bao đêm dưới ánh đèn để khâu đế giày đến mức đỏ cả mắt, bấy giờ mới nắm tay đưa cô vào trường học.

Bà cúi người xuống, cẩn thận thắt lại chiếc khăn quàng đỏ cho cô.

"Tảo Nhi, cháu nhất định phải chăm chỉ học hành, lớn lên làm người có chí khí, đừng giống như bà và mẹ cháu, nghe rõ chưa?"

Khương Tảo mỗi năm một cao lớn hơn, giống như cành cây vươn mình đón gió, chẳng mấy chốc đã cao hơn cả bà.

Bóng lưng Khương Ngũ Ni lại ngày một còng xuống, năm này qua năm khác lao động vất vả khiến bà mắc bệnh cột sống, việc ngồi xổm hay cúi người cũng trở thành một khó khăn.

Những đàn gà, vịt, ngỗng bà mua về từ sớm vào mùa xuân, đến mùa xuân năm sau lại biến thành khoản học phí nặng trĩu trong túi bà.

Khương Ngũ Ni cũng đã vô số lần đứng trên con đường mòn đầu thôn, đợi cô tan học, hoặc tiễn cô đi xa. 

Thế nhưng Khương Tảo khi đó, trong lòng chỉ đau đáu một ý nghĩ là muốn sớm ngày thoát khỏi chốn núi rừng u tịch này.

Thoát khỏi vòng luân hồi đầy khổ ải này, mãi mãi không bao giờ quay lại.

Cô chưa từng, chưa từng một lần ngoái đầu nhìn lại.

Cho đến tận bây giờ, khi cô sực tỉnh muốn ngoảnh đầu lại thì mới phát hiện... nhìn lại quãng đường đã qua, người xưa đã không còn nữa.

Người trong thư vẫn đang nắn nót từng chữ.

Người ngoài thư thì đã khóc đến nghẹn ngào.

"Cứ thế, bà đặt tên cháu là Khương Tảo, hy vọng cháu giống như cây táo trước cửa nhà mình, chịu rét, chịu hạn, nhưng khi kết trái lại ngọt ngào vô cùng, đến ngày bà lên huyện làm hộ khẩu cho cháu, người tiếp đón bà ở cửa sổ đồn công an là một nữ cảnh sát."

"Bà luôn khắc sâu hình ảnh cô ấy trong lòng."

"Cô ấy xem tờ giấy bà đưa, do thầy giáo trong thôn viết, mỉm cười rồi viết ra một chữ khác cho bà."

"Con gái thì cứ gọi là Khương Tảo (早 - sớm) đi, 'tảo' tức là nắng sớm mai, là lúc mặt trời vừa ló rạng trong ngày, mong sao sau này cô bé cũng rực rỡ như ánh nắng hôm nay, tràn trề sức sống, lớn lên khỏe mạnh."

"Bà nghe không hiểu cô ấy nói gì, nhưng cũng thấy chữ đó rất hay, bèn gật đầu đồng ý, thế là 'Tảo' (早) trở thành chữ đầu tiên bà biết mặt, nhưng sau này bà vẫn quen gọi tên cúng cơm của cháu là Tảo Nhi (枣 - quả táo)."

"Bà kể với cháu nhiều chuyện như vậy, thật ra chỉ muốn xin cháu tha thứ cho bà, tha thứ cho bà vì những mài mòn của cuộc sống thường nhật mà trở nên cáu bẳn, nóng nảy, ngang ngược, hay nói lời cay nghiệt, tha thứ cho bà vì không biết cách chung sống với trẻ con, lúc cháu còn nhỏ đã không đối xử tốt với cháu, khiến cháu chịu nhiều thiệt thòi, dẫn đến việc cháu trưởng thành lại kháng cự việc về nhà."

Khương Tảo nhớ lại mỗi năm trước dịp Tết Nguyên đán, khi cô vừa ra trường đi làm, lúc nào cũng nhận được điện thoại của Khương Ngũ Ni.

"Tảo Nhi, năm nay có về ăn Tết không?"

Đầu dây bên kia, bà hỏi với giọng rụt rè mong ngóng, nhưng lần nào cũng nhận được câu trả lời phủ định.

Cô chưa từng, chưa từng về nhà đoàn tụ cùng bà trong đêm Giao Thừa, chưa từng, chưa một lần nào.

"Khi mạt thế ập đến, thật ra trong lòng bà có một tia mừng rỡ thầm kín, cuối cùng bà cũng được gặp lại Tảo Nhi của bà, cuối cùng cũng được cùng cháu đón một cái Tết đoàn viên. Trong ngôi nhà này có cháu, có Tiểu Chiêu, có cả Tiểu Di và Cola, mấy năm nay dù điều kiện sống gian khổ, nhưng lại là quãng thời gian hạnh phúc vui vẻ nhất trong đời bà."

"Cháu và Tiểu Chiêu, Tiểu Di cũng mang lại cho bà sự khích lệ và sức mạnh to lớn, nếu không có các cháu, bà không thể trụ được đến bây giờ, lần tiêu diệt đám xác sống trong thôn đó, cháu bảo chúng ta là một đội, thiếu một người cũng không được, thật ra trong lòng bà vui lắm."

"Đây là lần đầu tiên trong đời bà được người khác công nhận như thế, hóa ra cảm giác được khẳng định và tin tưởng lại tuyệt vời đến vậy."

"Tảo Nhi, dù cuộc sống có lắm gian truân, nhưng bà chưa bao giờ hối hận khi đưa cháu về nhà, có thể làm bà ngoại của cháu, bà rất hạnh phúc."

"Không biết kiếp sau có còn duyên gặp lại cháu không, nhưng cháu vĩnh viễn là người bà yêu thương nhất và là đứa cháu đáng tự hào nhất của bà."

Trên những trang giấy đã hơi ngả vàng còn vương lại vài vết nước mắt đã khô, Khương Tảo run rẩy, trong cổ họng bật ra tiếng nức nở nghẹn ngào.

Khương Ngũ Ni viết tiếp:

"Từ ngày thảm họa xảy ra, bà đã biết sẽ có ngày này, bà chỉ không nỡ rời xa Tảo Nhi của bà, nên mới kéo dài hơi tàn đến tận bây giờ, nếu thật sự đến lúc bắt buộc bà phải ra đi......"

"Cũng xin cháu đừng quá đau buồn."

"Bà biết cháu rất kiên cường, nhất thời chắc chắn không thể chấp nhận được sự thật này, nhưng dù thế nào đi nữa, cũng xin cháu hãy sống thật tốt, ở bất kỳ thời điểm nào, hoàn cảnh nào, cũng đừng bao giờ từ bỏ hy vọng."

"Hy vọng giống như hạt giống, chỉ cần gieo vào lòng, một ngày nào đó sẽ vươn mình thành cây cổ thụ xanh tươi."

"Nếu có thể, cháu hãy thay bà về thôn Nguyên Khê xem thử, lúa mì vừa mới gieo vẫn chưa nảy mầm đâu."

Đọc đến đây, Khương Tảo đã hoàn toàn suy sụp, nước mắt từng giọt rơi bộp xuống làm ướt đẫm bức thư, Khương Ngũ Ni lại tinh nghịch vẽ một khuôn mặt cười trên giấy.

"À đúng rồi, lần trước cháu và Tiểu Chiêu ra ngoài leo núi tuyết Sùng Minh, bà ở nhà rảnh rỗi không có việc gì làm, dọn dẹp sách trên gác xép, có đọc được một bài thơ nhỏ, bà rất thích, muốn chia sẻ lại cho cháu."

"Tảo Nhi của bà chắc cũng đã lâu lắm rồi không có nhã hứng ngồi xuống đọc sách đàng hoàng rồi nhỉ."

——

"Người thương hỡi, xin đừng khóc trước nấm mộ của tôi"

"Tôi không ở đó, tôi không ngủ say"

"Tôi là gió lộng ngàn mây, dạo chơi muôn nẻo"

"Tôi là sương giá lung linh, lấp lánh trên tuyết"

"Tôi là nắng mai ấm áp, ôm ấp đồng lúa"

"Tôi là mưa thu lất phất, tưới mát ruộng đồng"

"Khi người tỉnh giấc đón ánh bình minh, tôi là sương sớm bên ngoài cửa sổ"

"Trong đêm tĩnh lặng chim trời lượn vòng"

"Tôi là muôn vì sao sáng rực trên cao"

"Xin đừng khóc trước nấm mộ của tôi"

"Tôi không ở đó, tôi chưa từng rời xa."

Khương Mạch Tử lưu bút.

Từ những dòng nước mắt lặng lẽ lúc đầu, đến tiếng nấc nghẹn ngào không kìm nén được, rồi thành tiếng khóc rấm rứt, Khương Tảo run rẩy cơ thể, lung lay sắp đổ.

Văn Chiêu vuốt tóc cô, áp đầu cô vào ngực mình.

"Khóc đi, cứ khóc to lên, quanh đây không có xác sống đâu."

Khương Tảo nắm chặt lấy áo Văn Chiêu, đến mức các đốt ngón tay trắng bệch, khi nghe thấy câu nói này, cuối cùng cũng không kìm nén được nữa, từ tiếng nức nở nghẹn ngào chuyển thành tiếng khóc nức nở xé ruột xé gan.

Văn Chiêu ôm chặt cô vào lòng, siết lấy cơ thể cô, như muốn khảm cô vào máu thịt mình.

Bất tri bất giác, cô ấy cũng đã khóc cạn nước mắt.

Tiếng khóc xé lòng vang vọng rất xa trong khu rừng.

Nước sông cuộn trào không ngừng, trôi về phía chân trời.

Đêm đó Khương Tảo không biết mình thiếp đi từ lúc nào, có lẽ là khóc mệt quá nên thiếp đi, hoặc là do sốt quá cao nên mơ mơ màng màng lịm đi.

Khi mở mắt ra, cô nghe thấy tiếng chim hót líu lo ngoài cửa sổ, bèn đẩy cửa sổ ra, một con chim én đuôi dài xinh đẹp đang đậu trên khung cửa sổ, đôi mắt đen láy tròn xoe nhìn cô chằm chằm.

Khương Tảo khẽ mỉm cười, đưa tay ra.

"Khương Mạch Tử, là bà về thăm cháu đấy à?"

Chú chim nhỏ bay đậu lên ngón tay cô, nhẹ nhàng mổ một cái, giống như đặt một nụ hôn lên lòng bàn tay cô, sau đó đập cánh bay vút lên bầu trời, lượn lờ thật lâu rồi biến mất giữa biển rừng mênh mông tuyết trắng.

Nụ cười trên môi Khương Tảo dần tắt, vành mắt cô lại đỏ hoe.

Văn Chiêu phía sau nghe thấy động tĩnh cũng ngồi dậy.

"Tiểu Tảo, tóc của em..."

"Sao thế?"

Khương Tảo quay đầu lại, thấy Văn Chiêu nhìn mình với vẻ mặt kinh ngạc pha lẫn xót xa, cô đưa ngón tay vuốt một lọn tóc lên trước mặt xem thử: "Hóa ra... đã bạc trắng hết rồi sao..."

Mái tóc đen nhánh dày mượt ban đầu của cô, chỉ sau một đêm đã bạc trắng hoàn toàn, cộng thêm gương mặt nhợt nhạt như giấy, càng khiến cô trông càng thêm tiều tụy, yếu ớt.

"Em nhớ... nhớ trước đây chị thích tết tóc bím cho em nhất... dầu gội đầu hết rồi chị cũng nhất quyết dùng bồ kết để gội đầu cho em..."

Cô chưa kịp nói hết câu, Văn Chiêu đã nắm chặt nắm đấm, cúi gầm mặt, nước mắt từng giọt từng giọt rơi xuống ván giường.

Khương Tảo đưa tay ra, nhẹ nhàng ôm lấy cô ấy, mặc cho mái tóc bạc trắng buông xõa.

"Vậy sau này chị tết tóc cho em được không?"

"Được."

"Em biến thành thế này rồi, chị có còn thích em nữa không?"

Văn Chiêu chăm chú nhìn khuôn mặt cô, nhẹ nhàng lau đi vệt nước mắt nơi khóe mắt, vuốt lọn tóc xõa bên má cô ra sau tai.

"Chị sẽ luôn yêu em, em vẫn đẹp như ngày nào, không đúng, là đẹp hơn trước kia nữa."

Khương Tảo nhìn dấu tay đỏ tấy trên mặt Văn Chiêu, cũng nhẹ nhàng v**t v* gò má cô ấy: "Còn đau không?"

Văn Chiêu lắc đầu, kéo tay cô xuống nắm trong lòng bàn tay: "Sau này còn có chị ở bên em, chị cũng là người nhà của em."

Khương Tảo đỏ hoe mắt, mổ một cái lên đôi môi mềm mại của cô ấy.

"Thế thì hứa rồi nhé, chúng ta phải luôn ở bên nhau, không ai được đi trước."

Trên khuôn mặt Văn Chiêu cuối cùng cũng hiện lên nụ cười đầu tiên kể từ khi rời khỏi thôn Nguyên Khê, dưới ánh nắng ban mai, cô ấy từ từ cúi xuống, hôn lên khóe môi Khương Tảo.

"Được, nói dối là chó con."

Tuyết bên ngoài cũng đã tạnh, họ cũng nên xuất phát thôi.

Văn Chiêu dọn dẹp xong balo, bế Tiểu Di lên, quấn áo ấm cho cô bé, Khương Tảo mở cửa, nhìn một mảnh tuyết trắng mênh mông.

"Chúng ta đi đâu bây giờ?"

Văn Chiêu ngoái đầu nhìn Tiểu Di, cô bé vẫn nhắm nghiền mắt, hoàn toàn không hay biết chuyện gì đã xảy ra với Khương Ngũ Ni và Cola, nhưng lúc này, người không biết gì mới là người hạnh phúc nhất.

"Chị không rõ nữa, nhưng... đừng dừng lại, chỉ cần luôn tiến về phía trước, chắc chắn sẽ có hy vọng."

____

Bài thơ Khương Ngũ Ni viết cho Khương Tảo là: "Do not stand at my grave and weep" của Mary Elizabeth Frye, tác giả chú thích là có thay đổi một chút.

Bình Luận (0)
Comment