Ba Mươi Năm Làm Phi - Nàng Và Đèn

Chương 137

“Tam lục cửu đẳng, mỗi một bậc là một tầng trời.”

Trần Tiểu Lâu mơ hồ nhớ ra, câu này dường như cũng là lời hát trong một vở tuồng nào đó. Khúc điệu là một bài ‘Ký Sinh Thảo’, âm thanh dồn dập, trầm bổng mạnh mẽ, khiến người nghe kinh tâm động phách. Chỉ là khi ấy hắn còn chưa nghe ra được, trong giọng nói của Trương gia ẩn chứa âm thanh tim gan như vỡ nát.

Nói cho cùng, vẫn là đạo hạnh chưa đủ. Mà cái gọi là đạo hạnh ấy, lại vô cùng khó nói, có liên quan đến trải nghiệm và tuổi tác của con người, cũng không phải vài ba câu là có thể nói rõ được.

Trần Tiểu Lâu dần dần nhận ra, về sau theo Trương gia học tuồng, học không chỉ là làn điệu, thân pháp, mà còn là đạo xử thế của người trong nghề.

Người dựa vào cổ họng và thân thể mà kiếm ăn, tuyệt đối không thể quá sạch sẽ. Quá sạch sẽ rồi, âm thanh trong cổ họng sẽ không còn trơn nhuận, eo lưng cổ tay cũng sẽ trở nên cứng nhắc. Vì vậy, ngoài việc hát hay, còn phải hiểu tình ái, tình ái giữa nam với nam, tình ái giữa nam với nữ đều phải biết một chút. Nhưng lại không được chìm đắm trong đó, nếu không sẽ không còn một trái tim cứng rắn, để có thể rút mình ra khỏi những vui buồn giận hờn hết vở này đến vở khác trên sân khấu.

Năm trước khi lão Hoàng đế băng hà, Trương gia qua đời. Mà Trần Tiểu Lâu cũng đã nổi danh tại kinh sư, tự lập môn hộ, dựng nên gánh hát họ Trần. Hắn tự dựng cho mình một thân phận con cháu danh môn sa sút, ngầm kết giao với một số tử đệ Bát Kỳ, cùng bọn họ bàn luận đồ ngọc, ngựa quý. Bởi thân hình hắn uyển chuyển, dung mạo thanh tú, cử chỉ phong lưu tự thành một vẻ, đám công tử ăn chơi kia nghe danh, ai nấy đều phi ngựa đến bái kiến, muốn thân cận với hắn.

Nhưng hắn cũng có thủ đoạn học được.

Gần mà như xa, sắp chạm lại rời.

Tuyệt không để bọn họ chạm tới mình, lại có thể khơi gợi khiến lòng dạ họ ngứa ngáy, tranh nhau vung tiền như nước vì hắn.

Có được sự nâng đỡ của những kẻ ấy, Trần Tiểu Lâu một bước thành danh, trở thành danh giác được các gia môn tranh nhau mời đến hát trong những buổi tụ hội.

Chỉ tiếc lão Hoàng đế người Mãn vừa nhắm mắt xuôi tay, trong cung liền ban lệnh cấm hát. Trên từ thân vương bối lặc, dưới đến văn võ bá quan, thậm chí cả dân thường, đều không được nghe tiếng tơ trúc.

Gánh họ Trần ở kinh sư mất kế sinh nhai, lòng người ly tán, không ít kẻ thấy không còn hy vọng kiếm tiền bèn gói ghém hành lý trở về quê.

Trong số những tử đệ từng nâng đỡ hắn khi đó, có một người xuất thân Bao y thuộc hạ tam kỳ, tên là Lý Tăng, là nô tài gia sinh của Thập Nhị gia. Nghe nói ông chủ Trần muốn vào Thăng Bình Thự làm ngoại học, để lấy lòng hắn liền mượn thế chủ nhân mình là người đứng đầu Nội Vụ Phủ, bản thân cũng có chút thế lực trong đó, nhiệt tình trải sẵn cho hắn một con đường.

“Ấy, tuy nói quốc tang của Tiên đế, nơi nơi đều như nín thở, không thể mở trống diễn tuồng, nhưng đâu có cấm mọi người bình luận tuồng tích. Người như Trần lão bản, cũng nên vào cung mở mang kiến thức, sau này ra ngoài, chẳng phải như Bồ Tát dát vàng, có thể làm đầu bảng tuồng ở kinh sư hay sao?”

“Ôi, nếu đại nhân có thể giúp Tiểu Lâu hoàn thành tâm nguyện này, Tiểu Lâu nhất định trọng tạ.”

“Trọng tạ gì chứ, tối nay…”

“Đại nhân à, quốc tang vẫn còn đó.”

“Ấy, phải phải, ta đáng bị vả miệng.”

Vào Tử Cấm Thành, lại là một cảnh tượng khác.

Sau khi qua kỳ đại tang, trừ phục, màn trắng cờ tang trong một đêm đều thu lại sạch sẽ, trước mắt là cảnh tượng triều đại mới, vạn vật đổi thay. Thăng Bình Thự đang tập dượt những vở tuồng mới, trong kinh sư, các gánh hát cũng lần lượt trang điểm lại, dựng đài diễn.

Mà Trần Tiểu Lâu nhờ được “mạ vàng” một tầng này, danh tiếng quả nhiên càng vang dội, ở kinh sư trở nên khó cầu một chỗ.

Ngay cả một kẻ si mê tuồng như Đại học sĩ Trương Hiếu Nho cũng ôm bạc đến nâng đỡ hắn.

Trong cung cũng hát, ngoài cung cũng hát. Dần dần sinh ra so sánh: tuồng ngoài cung cần trống chiêng náo nhiệt, cần sự rộn ràng, cần thể diện cho chủ buổi tiệc. Trong cung quy củ nghiêm ngặt, tuồng tích cũng vô cùng cầu kỳ, các vị chủ tử có vô số điều kiêng kị, cấm kỵ hoàng gia chất đầy, khiến người ta khó mà tận hứng. Lại thêm sân khấu cao lớn, các chủ tử ngồi dưới, y phục thêu kim tuyến ngân tuyến, dưới ánh đèn sáng lóa, nhìn đến chói mắt, chẳng thấy rõ gì.

Vì thế, lần đầu tiên Trần Tiểu Lâu thật sự nhìn rõ Hoàng hậu của Đại Thanh, là vào năm Tam A Ca mắc đậu mùa mà qua đời.

Hoàng hậu là người Mông Cổ, từ nhỏ lớn lên trên thảo nguyên, tuy đã gả cho Hoàng đế nhưng thời gian sống ở kinh sư không dài, thuở thiếu niên cũng chưa từng nghe tuồng Trung Nguyên. Ban đầu, đối với những làn điệu ê a kia cũng không mấy hứng thú, chỉ là vì Thái hậu thích, lại thêm các phi tần trong cung cũng đều ưa nghe, nàng vốn luôn biết thương người, hiểu rằng Hoàng đế bận rộn chính sự, các nàng cùng mình đều cô quạnh nơi khuê phòng, nên dù không thích cũng vẫn tổ chức, cùng họ nghe tuồng, thỉnh thoảng trò chuyện để giết thời gian.

Tuồng trong cung nghe đi nghe lại cũng chỉ có mấy vở như thế. Ý tứ thì chính, quy mô thì lớn. Nghe lâu cũng sinh chán.

Đến tận một năm Trung thu nọ, Thăng Bình Thự để cho ngoại học dâng tuồng, Trần Tiểu Lâu hát một đoạn trong ‘Mộng Xuân Khuê’.

Trong đó, đoạn Tây Bì Lưu Thủy kia, hắn hát đến mức như ói cả tim gan, lại như phun ra máu, tình cảm nồng đậm, làn điệu uyển chuyển.

Giống như đem tất cả những chờ mong của nàng đối với Hoàng đế suốt bao năm, tâm cảnh hoài xuân thuở thiếu thời, một mạch mà hát ra hết. Nghe đến mức nàng nước mắt không ngừng rơi.

Lại nhìn người hát trên đài, thân hình uyển chuyển, tuy là nam tử, lại có phong lưu không thua nữ nhân.

Nàng không kìm được mà buột miệng nói một tiếng: “Thưởng.”

Khi ấy, vở diễn vừa dứt.

Người trên đài dập đầu tạ ân với nàng. Nàng thuận miệng hỏi Tôn Miểu một câu: “Hắn tên gì?”

Tôn Miểu đáp: “Trần Tiểu Lâu, không phải người trong cung, là ban chủ gánh họ Trần ở kinh thành.”

“Ồ.”

Nàng chỉ “ồ” một tiếng như vậy, cũng không cố ý ghi nhớ cái tên này, thu lại ánh mắt, nhìn về phía Hoàng đế đang ngồi chính tịch.

Hoàng đế cầm chén rượu, đang nói chuyện với Thái hậu. Ngày ấy, Vương Sơ Nguyệt thân thể không khỏe nên không có mặt. Trên mặt Hoàng đế tuy bày ra một nụ cười lạnh nhạt, nhưng ánh mắt lại lạnh lẽo như ánh trăng trên đầu bọn họ.

Ngày ấy, cũng chính là ngày nàng được thị tẩm.

Người của Kính Sự Phòng từ sớm đã đợi sẵn ở Trường Xuân Cung. Khi Hoàng đế đến đã quá canh. Hoàng hậu ngủ mơ màng, lại bị cung nhân gọi dậy. Hoàng đế rõ ràng hứng thú nhạt nhẽo, qua loa cùng nàng làm xong chuyện chăn gối liền xoay người quay lưng, tự mình ngủ.

Nhưng cũng chính ngày đó, nàng rốt cuộc lại có được đứa con của mình.

Có con rồi, vạn sự đều đủ.

Đối với Hoàng hậu khi ấy mà nói, câu này thực sự không gì chân thực hơn.

Hoàng đế đối với Vương Sơ Nguyệt thế nào, đối với các phi tần khác ra sao, Hoàng hậu thật sự đã xem nhẹ. Sau khi mang thai, nàng thậm chí lười hỏi đến chuyện Kính Sự Phòng, cũng lười biết Hoàng đế nghỉ ở đâu.

Một lòng một dạ chỉ lo bảo vệ đứa trẻ trong bụng, đứa trẻ vô cùng quan trọng đối với nàng, đối với Mông Cổ, thậm chí đối với cả Đại Thanh.

Nào ngờ, đứa trẻ tuy bình an sinh ra, lại không thể tránh khỏi ác mộng của hoàng tộc Mãn Thanh.

Tam A Ca chưa đầy tuổi đã mắc đậu mùa. Năm ấy, Khâm Thiên Giám tâu rằng thiên tượng có dị biến, lời đồn “nguyệt túc xung dương” lan khắp trong cung. Nàng đi cầu Hoàng đế bảo vệ con mình, Hoàng đế lại ngay trước mặt quở trách nàng nông cạn ngu muội.

Nàng không còn cách nào khác, lần đầu tiên trái ý Hoàng đế, dùng đến tấu chương của Trung cung. Giam Vương Sơ Nguyệt và Đại A Ca vào Khâm An điện. Nàng nghĩ, cho dù phải xé rách tầng thể diện cuối cùng với Hoàng đế, với Vương Sơ Nguyệt, nàng cũng phải giữ được con mình.

Nào ngờ, người phụ nữ ở Dực Khôn cung kia vẫn lặng lẽ tuân theo ý nàng, dẫn Đại A Ca vào Khâm An điện. Mà Hoàng đế cũng không bác bỏ nàng. Dù vậy, đứa trẻ vẫn chết.

Nàng đi cầu Hoàng đế, xin được xuất cung nhìn con mình một lần. Hoàng đế không cho phép. Cuối cùng, thứ nàng chờ được là chiếc kim quan đặt thi hài đứa trẻ. Nàng muốn gặp nó. Nàng muốn khóc trước mặt Hoàng đế một trận. Hoàng đế vẫn không chịu. Từ đó, mối liên hệ giữa nàng và Hoàng đế dường như đã hoàn toàn đứt đoạn.

Những ngày đầu, Hoàng hậu đêm nào cũng không ngủ được. Vừa nhắm mắt liền thấy gương mặt Tam A Ca, đầy những nốt đậu lở loét, chảy mủ máu khiến người kinh hãi. Nàng vội mở mắt ngồi bật dậy, kinh hoảng gọi Tôn Miểu.

Nhưng Tôn Miểu đến, cũng không dám nói gì, sợ chạm đến nỗi đau của nàng khiến nàng lại rơi lệ. Vì thế chủ tớ hai người cứ thế thắp đèn ngồi, ngồi mãi đến khi trời phía đông hửng sáng.

Tôn Miểu thực sự không đành lòng nhìn chủ tử mình sa sút như vậy. Sau khi trừ phục, có một ngày không nhịn được mà nói: “Nương nương, Thăng Bình Thự mới dàn dựng tuồng mới, không bằng truyền một vở náo nhiệt đến đây. Gọi Uyển tần, Ninh Thường tại đến, cùng người vui một chút.”

“Những vở tuồng đó có gì hay… đều chẳng ra sao.”

“Nương nương, Trung thu năm ngoái, người chẳng phải rất thích nghe vị ngoại học họ Trần kia hát ‘Mộng Xuân Khuê’ sao? Nghe nói mấy ngày nay hắn đang ở trong cung.”

Mộng Xuân Khuê.

Hoàng hậu không khỏi lẩm nhẩm một câu: “Ngày hải đường nở, thiếp đợi đến nay…”

Tôn Miểu tuy không hiểu tuồng, nhưng cũng nghe ra trong câu hát ấy đầy oán hận và bi thương bèn vội thấp giọng nói: “Nô tài đáng chết.”

“Không phải ngươi đáng chết, là bản cung đáng chết.”

“Nương nương, người nói vậy, lòng nô tài tan nát mất…”

Hoàng hậu ngẩng đầu, nhìn về phía cửa cung lạnh lẽo.

Nam nhân một khi đã không còn lòng thì ngay cả gặp mặt cũng trở thành chán ghét, phải không?

Thật ra nàng vẫn luôn cảm thấy, đối với tình ái, nàng không hề tham lam. Nàng chỉ muốn hắn đến gặp nàng, nói với nàng một câu: “Không sao, con mất rồi, nàng vẫn còn trẫm.”

Chỉ vậy thôi là đủ.

Nhưng hắn dường như không còn muốn gặp nàng nữa.

Tiếng Nam bang tử vang lên, đoạn sau của ‘Mộng Xuân Khuê’ là gì nhỉ…

Trước mắt nàng có chút mờ đi.

À… là:

“Bị quấn quýt bỗng nhớ lại cảnh hôn nhân, tính khi xưa từng mấy phen êm ấm.

Ta không khỏi sắp đặt chăn gấm gối thêu, chớ phụ đêm xuân một khắc đáng ngàn vàng.

Hóa ra là chẳng chịu nổi đã buồn ngủ.”

Tiếp đó, lại nối một đoạn Tây Bì Dao Bản, hát rằng:

“Ta đến dìu ngưi, cùng định lại uyên minh.”

Quả nhiên đều là hí văn, toàn là những lời hoang đường giả dối.

“Thôi vậy, Tôn Miểu, ngươi đi truyền người tên Trần Tiểu Lâu đến đây.”

“Vâng.”

Tôn Miểu sắp lui ra. Nàng lại lên tiếng gọi lại: “Ngươi nói với hắn, con của bản cung mới mất chưa lâu, bản cung không nghe nổi tiếng tơ trúc chiêng trống, cũng không cho hắn tô vẽ dầu phấn. Bảo hắn mặc y phục giản dị, để mặt mộc mà đến. Những vở khác, bản cung cũng không nghe. Chỉ một vở ‘Mộng Xuân Khuê’. Hát đoạn Tây Bì Lưu Thủy kia.”

Bình Luận (0)
Comment